Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu,2 ngụ tại Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của nước Câu-lâu.3
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Do biết, do thấy nên các lậu hoặc4 được đoạn trừ, chứ không phải do không biết, không phải do không thấy. Thế nào là do biết, do thấy nên các lậu hoặc được đoạn trừ? Nghĩa là có chánh tư duy và không có chánh tư duy. Nếu không có chánh tư duy thì lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm; các lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc,5 tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm. Nếu có chánh tư duy thì lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh khởi sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ; tất cả lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh khởi sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ.
Hạng phàm phu ngu si không được nghe Chánh pháp, không được gặp bậc tri thức chân chánh, không biết pháp của bậc Thánh, không được điều phục theo pháp của bậc Thánh, không biết pháp như thật. Nếu không có chánh tư duy thì lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm; lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm. Nếu có chánh tư duy thì lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh khởi sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ; lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh khởi sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ. Vì không biết pháp như thật, do đó pháp không nên nhớ nghĩ lại nhớ nghĩ, pháp nên nhớ nghĩ lại không nhớ nghĩ. Vì pháp không nên nhớ nghĩ lại nhớ nghĩ, pháp nên nhớ nghĩ lại không nhớ nghĩ, nên lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm; lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh khởi sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm.
[0432a01] Vị Thánh đệ tử đa văn6 được nghe Chánh pháp, được gặp bậc tri thức chân chánh, được điều phục theo pháp của bậc Thánh, biết pháp như thật. Nếu không có chánh tư duy thì lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm; lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh sẽ sanh khởi, đã sanh khởi liền tăng trưởng thêm. Nếu có chánh tư duy thì lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ; lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ. Biết như thật về các pháp rồi, pháp không nên nhớ nghĩ sẽ không nhớ nghĩ, pháp nên nhớ nghĩ liền nhớ nghĩ. Vì pháp không nên nhớ nghĩ thì không nhớ nghĩ và pháp nên nhớ nghĩ liền nhớ nghĩ, nên lậu hoặc trong cõi Dục chưa sanh sẽ không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ; lậu hoặc trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong ba cõi chưa sanh thì không sanh khởi, đã sanh khởi liền diệt trừ.
Có bảy pháp đoạn trừ lậu hoặc, phiền não và lo buồn. Bảy pháp ấy là gì? Có lậu hoặc được đoạn trừ do thấy biết,7 có lậu hoặc được đoạn trừ do phòng hộ,8 có lậu hoặc được đoạn trừ do tránh né,9 có lậu hoặc được đoạn từ do thọ dụng,10 có lậu hoặc được đoạn trừ do kham nhẫn,11 có lậu hoặc được đoạn trừ do từ bỏ,12 có lậu hoặc được đoạn trừ do tu tập.13
Thế nào là lậu hoặc được đoạn trừ do thấy biết? Hạng phàm phu ngu si không được nghe Chánh pháp, không được gặp bậc tri thức chân chánh, không biết pháp của bậc Thánh, không được điều phục theo pháp của bậc Thánh, không biết như thật về pháp, vì không có chánh tư duy nên suy nghĩ như vầy:
“Ta hiện hữu ở đời quá khứ? Ta không hiện hữu ở đời quá khứ? Do nhân gì mà ta có đời quá khứ? Ta ở đời quá khứ như thế nào? Ta hiện hữu ở đời vị lai? Ta không hiện hữu ở đời vị lai? Do nhân gì mà ta có đời vị lai? Ta ở đời vị lai như thế nào? Tự hoài nghi về chính mình, thân ta là gì? Nó như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Vốn do nhân gì mà hiện hữu? Sẽ do nhân gì mà hiện hữu?” Người kia khởi tư duy không chân chánh như vậy rồi thì tùy theo từng loại kiến chấp trong sáu kiến chấp14 mà khởi lên kiến chấp có tự ngã chân thật, hoặc khởi lên kiến chấp không có tự ngã chân thật, hoặc khởi lên kiến chấp có tự ngã thì thấy là tự ngã, hoặc khởi lên kiến chấp thấy tự ngã mà chẳng phải tự ngã, hoặc khởi lên kiến chấp chẳng phải tự ngã mà thấy rằng tự ngã, hoặc khởi lên kiến chấp chính tự ngã này có thể nói năng, có thể nhận biết, có thể hành động, có thể sai khiến, có thể đứng dậy, có thể sai khiến đứng dậy, sanh vào nơi này nơi kia, thọ nhận quả báo thiện, quả báo ác, chung cuộc không từ đâu đến, chung cuộc không hiện hữu, chung cuộc sẽ không hiện hữu. Đó là những điều xấu xa của kiến chấp, bị kiến chấp lay động, bị kiết sử kiến chấp buộc chặt. Vì thế, kẻ phàm phu ngu si phải thọ nhận khổ đau của sanh, già, bệnh, chết.
Vị Thánh đệ tử đa văn được nghe Chánh pháp, được gặp bậc tri thức chân chánh, được điều phục theo pháp của bậc Thánh, biết như thật về pháp, biết như thật về khổ, biết như thật về nguyên nhân của khổ, biết như thật về khổ diệt và biết như thật về con đường đưa đến khổ diệt. Biết như thật như thế rồi, liền trừ sạch ba kiết là thân kiến, giới thủ và nghi. Khi ba kiết đã diệt trừ sạch, liền chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa lạc trong pháp ác, chắc chắn thẳng tiến đến Chánh giác, thọ sanh tối đa bảy đời trong cõi người hay cõi trời. Sau bảy lần qua lại, liền vượt thoát khổ đau. Nếu người không có sự thấy biết như vậy thì sanh khởi phiền não, lo buồn; có tri kiến thì không sanh khởi phiền não, lo buồn. Đó gọi là có lậu hoặc được đoạn trừ do thấy biết.
[0432b06] Thế nào là có lậu hoặc được đoạn trừ do phòng hộ? Này Tỳ-kheo! Khi mắt thấy sắc, nếu có phòng hộ nhãn căn thì nhờ chánh tư duy mà quán bất tịnh, nếu không phòng hộ nhãn căn thì sẽ không có chánh tư duy nên quán là tịnh. Nếu không phòng hộ thì sanh khởi phiền não, buồn lo; nếu có phòng hộ thì không sanh phiền não, buồn lo. Cũng vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân hay ý biết pháp mà có phòng hộ ý căn thì nhờ chánh tư duy mà quán bất tịnh, nếu không phòng hộ ý căn thì sẽ không có chánh tư duy nên quán là tịnh. Nếu không phòng hộ thì sanh khởi phiền não, buồn lo, nếu có phòng hộ thì không sanh khởi phiền não, buồn lo. Đó gọi là có lậu hoặc được đoạn trừ do phòng hộ.
Thế nào là lậu hoặc được đoạn trừ do tránh né? Này Tỳ-kheo! Khi thấy voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó dữ, rắn độc, đường hiểm, hầm hố, hầm xí, sông ngòi, núi cao, suối sâu... thì nên tránh xa. Nếu bậc Phạm hạnh cùng chung một trú xứ với hàng tri thức xấu ác, bạn bè không tốt, ngoại đạo hung hiểm hay thôn ấp xấu xa, chỗ ở hiểm nguy thì sẽ khiến cho người không nghi ngờ sanh khởi nghi ngờ nên Tỳ-kheo cần phải tránh né. Nếu bậc Phạm hạnh cùng chung một trú xứ với tri thức xấu ác, bạn bè không tốt, ngoại đạo hung hiểm, thôn ấp xấu xa, chỗ ở hiểm nguy thì sẽ khiến cho người không nghi ngờ sanh khởi nghi ngờ nên phải hoàn toàn tránh né. Nếu không tránh né thì sẽ phát sanh phiền não, lo buồn; nếu tránh xa thì không phát sanh phiền não, lo buồn. Đó gọi là lậu hoặc được đoạn trừ do tránh né.
Thế nào là lậu hoặc được đoạn trừ do thọ dụng? Này Tỳ-kheo! Khi thọ dụng y phục chẳng phải để mưu lợi, chẳng phải để kiêu hãnh, chẳng phải để trang sức mà vì để tránh muỗi mòng, gió mưa, lạnh nóng, vì xấu hổ với mình và thẹn với người. Khi thọ dụng thực phẩm thì chẳng phải vì mưu lợi, chẳng phải để kiêu hãnh, chẳng phải để béo tốt mà chỉ khiến cho thân mạng trường tồn, để diệt trừ phiền não, lo buồn và vì để thực hành Phạm hạnh, vì muốn cho bệnh cũ tiêu trừ đừng sanh bệnh mới và vì để sống lâu an ổn, không bệnh tật. Khi thọ dụng nhà cửa, phòng ốc, giường nệm, vật dụng để nằm không phải để mưu lợi, chẳng phải để kiêu hãnh, chẳng phải để trang sức mà chỉ để lúc mệt mỏi có nơi an nghỉ, có nơi tĩnh tọa. Khi thọ dụng thuốc thang không phải để mưu lợi, chẳng phải để kiêu hãnh, không phải để béo tốt mà chỉ để trừ bệnh tật, để điều hòa cơ thể, để an ổn không bệnh. Nếu không thọ dụng những thứ ấy thì sẽ sanh phiền não, lo buồn; còn thọ dụng thì không sanh phiền não, lo buồn. Đó gọi là lậu hoặc được đoạn trừ do thọ dụng.
[0432c05] Thế nào là lậu hoặc được đoạn trừ do kham nhẫn? Này Tỳ-kheo! Hãy tinh tấn đoạn trừ pháp ác và bất thiện, tu tập các pháp thiện, luôn luôn tỉnh thức, chuyên tâm tinh cần, thà để tất cả thân thể, da thịt, gân xương và máu tủy thảy đều khô kiệt chứ không từ bỏ tinh tấn, phải đạt được mục đích mong muốn mới bỏ sự tinh tấn. Này Tỳ-kheo! Các thầy lại phải nhẫn chịu sự đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi, bọ chét, chí rận; dù mưa gió hay tiết trời bức bách, bị lời hung dữ hay bị đánh đập cũng đều có thể nhẫn chịu; dù thân mang bệnh tật vô cùng đau đớn, đến nỗi gần như mất mạng và những điều không đáng ưa thích, tất cả đều phải nhẫn chịu. Nếu không nhẫn chịu thì sanh khởi phiền não, buồn lo; nếu nhẫn chịu được thì không sanh khởi phiền não, buồn lo. Đó gọi là lậu hoặc được đoạn trừ do kham nhẫn.
Thế nào là lậu hoặc được đoạn trừ do từ bỏ? Này Tỳ-kheo! Nếu niệm dục đã sanh khởi mà không từ bỏ, không xa lìa; niệm sân và niệm hại đã sanh khởi mà không đoạn trừ, không xa lìa thì phiền não, lo buồn sẽ phát sanh; nếu từ bỏ thì phiền não, lo buồn sẽ không phát sanh. Đó gọi là lậu hoặc được đoạn trừ do từ bỏ.
Thế nào là lậu hoặc được đoạn trừ do tu tập? Này Tỳ-kheo! Hãy tu tập giác chi đầu tiên là niệm giác chi, nương hạnh viễn ly, nương hạnh vô dục, nương hạnh diệt tận mà hướng đến xuất ly;15 trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an,16 định, cho đến tu tập giác chi thứ bảy là xả, nương hạnh viễn ly, nương hạnh vô dục, nương hạnh diệt tận mà hướng đến xuất ly. Nếu không tu tập thì sanh khởi phiền não, lo buồn; có tu tập thì không sanh khởi phiền não, lo buồn. Đó gọi là lậu hoặc được đoạn trừ do tu tập.
Nếu Tỳ-kheo có lậu hoặc do thấy biết được đoạn trừ thì hãy dùng thấy biết để đoạn trừ, có lậu hoặc do phòng hộ được đoạn trừ thì hãy dùng phòng hộ để đoạn trừ, có lậu hoặc do tránh né được đoạn trừ thì hãy dùng tránh né để đoạn trừ, có lậu hoặc do thọ dụng được đoạn trừ thì hãy dùng thọ dụng để đoạn trừ, có lậu hoặc do kham nhẫn được đoạn trừ thì hãy dùng kham nhẫn để đoạn trừ, có lậu hoặc do từ bỏ được đoạn trừ thì hãy dùng từ bỏ để đoạn trừ, có lậu hoặc do tu tập được đoạn trừ thì hãy dùng tu tập để đoạn trừ. Đó gọi là vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ tất cả lậu hoặc, đã diệt trừ các kiết sử, có thể dùng chánh trí để vượt thoát khổ đau.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.17
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Lậu tận kinh 漏盡經 (T.01. 0026.10. 0431c13). Tham chiếu: Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh 一切流攝守因經 (T.01. 0031. 0813a05); Tăng. 增 (T.02. 0125.40.6. 0740a25); M. 2, Sabbāsava Sutta (Kinh tất cả lậu hoặc).
2 Câu-lâu-sấu (拘樓瘦, Kurusu), dân chúng Kuru, hậu tố “su” chỉ cho số nhiều của người Kuru. Kuru là một trong 16 nước lớn ở thời Phật.
3 Kiếm-ma-sắt-đàm Câu-lâu đô ấp (劍磨瑟曇拘樓都邑, Kammāsadhamma), thủ đô của dân chúng Kuru.
4 Nguyên tác: Lậu (漏, āsava), tức phiền não, nhiễm ô.
5 Nguyên tác: Hữu lậu, vô minh lậu (有漏,無明漏). Hữu lậu (有漏,bhavāsava): Hết thảy phiền não trong cõi Sắc và Vô sắc, trừ vô minh ra, gọi là “hữu lậu.” Vô minh lậu (無明漏, avijjāsava), Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.89. 0802a19) giải thích rằng tổng nhiếp vô trí trong cả ba cõi này làm thành một, lập nên “vô minh lậu” (於彼三界所有無智總攝為一,立無明漏).
6 Đa văn Thánh đệ tử (多聞聖弟子). Thành cú này dịch sát từ nguyên ngữ Pāli: Sutavā ariyasāvaka. Ở đây, sutavā là đa văn; Ariya là bậc Thánh, bậc cao thượng, cao quý; sāvaka là vị đệ tử. Thành cú này chỉ cho một vị đệ tử Phật, không phân biệt tại gia hay xuất gia, đã có sự chứng ngộ nói chung, từ Sơ quả cho đến Tứ quả và siêng năng học hỏi.
7 Kiến (見, dassanā): Nhận thấy, thấy biết, trực giác, giác ngộ.
8 Hộ (護, saṃvara): Sự thu thúc, việc đóng cửa. Tăng. 增 (T.02. 0125.40.6. 0740b03) ghi là “oai nghi” (威儀), có nghĩa là kiểm thúc, phòng hộ.
9 Ly (離, parivajjana): Sự tránh xa. Tăng. 增 (T.02. 0125.40.6. 0740b02) ghi là “viễn ly” (遠離, vīta).
10 Dụng (用, paṭisevana): Thọ dụng, sự thực hành. Tăng. 增 (T.02. 0125.40.6. 0740b02) ghi là “thân cận” (親近).
11 Nhẫn (忍, adhivāsana): Kham nhẫn, chịu đựng. Tăng. 增 (T.02. 0125.40.6. 0740c26) ghi là “cung kính” (恭敬).
12 Trừ (除, vinodana): Giải trừ, loại bỏ.
13 Tư duy (思惟) trong trường hợp này có nghĩa là tu tập (修習, bhāvana).
14 Lục kiến (六見): (i) Có tự ngã chân thật, (ii) Không có tự ngã chân thật, (iii) Có tự ngã thì thấy là tự ngã, (iv) Thấy tự ngã mà chẳng phải tự ngã, (v) Chẳng phải tự ngã mà thấy rằng tự ngã, (vi) Tự ngã này có thể nhận biết, hành động, sai khiến…
15 Y ly, y vô dục, y ư diệt tận, thú chí xuất yếu (依離,依無欲,依於滅盡,趣至出要, vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ): Y viễn ly, y ly dục, y diệt tận, hướng đến xả ly.
16 Tức (息, passaddhi) chỉ cho khinh an.
17 Bản Hán, hết quyển 2.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.