Viện Nghiên Cứu Phật Học

9. KINH BẢY CỖ XE1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá2 rồi cùng với đại chúng Tỳ-kheo an cư mùa mưa trong tinh xá Trúc Lâm.3 Tôn giả Mãn Từ Tử4 cũng an cư mùa mưa tại quê nhà của mình.
Bấy giờ, sau khi trải qua ba tháng an cư ở quê nhà, các Tỳ-kheo vá sửa y áo đã xong, liền xếp y ôm bát, rời khỏi quê nhà rồi hướng về thành Vương Xá. Các Tỳ-kheo tuần tự du hành cho đến thành Vương Xá rồi an trú trong tinh xá Trúc Lâm.
[0430a05] Bấy giờ, các Tỳ-kheo ấy đến trước đức Phật, cúi đầu kính lễ rồi ngồi sang một bên.
Đức Phật hỏi:
– Các Tỳ-kheo! Các thầy từ đâu đến đây và đã an cư mùa mưa ở đâu?
Các Tỳ-kheo từ phương xa đến thưa:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con từ quê nhà đến đây và an cư mùa mưa ngay tại quê nhà.
Đức Phật hỏi:
– Trong các Tỳ-kheo phương xa đến đây, có thầy nào được các Tỳ-kheo khen ngợi là: “Tự mình ít ham muốn, biết đủ và khen ngợi hạnh ít ham muốn, biết đủ. Tự mình ở nơi thanh vắng5 và khen ngợi hạnh ở nơi thanh vắng. Tự mình tinh tấn và khen ngợi hạnh tinh tấn. Tự mình chánh niệm và khen ngợi hạnh chánh niệm. Tự mình chánh định6 và khen ngợi hạnh chánh định. Tự mình có trí tuệ và khen ngợi hạnh trí tuệ. Tự mình dứt sạch phiền não và khen ngợi hạnh dứt sạch phiền não. Tự mình mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ7 và khen ngợi hạnh mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ chăng?”
Các Tỳ-kheo phương xa thưa:
– Bạch Thế Tôn! Tôn giả Mãn Từ Tử ở nơi quê nhà của mình được các Tỳ-kheo khen ngợi là: “Tự mình ít ham muốn, biết đủ và khen ngợi hạnh ít ham muốn, biết đủ. Tự mình ở nơi thanh vắng và khen ngợi hạnh ở nơi thanh vắng. Tự mình tinh tấn và khen ngợi hạnh tinh tấn. Tự mình chánh niệm và khen ngợi hạnh chánh niệm. Tự mình chánh định và khen ngợi hạnh chánh định. Tự mình có trí tuệ và khen ngợi hạnh trí tuệ. Tự mình dứt sạch phiền não và khen ngợi hạnh dứt sạch phiền não. Tự mình mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ và khen ngợi hạnh mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ.”
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất8 đang ngồi trong đại chúng, thầm nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn đúng theo pháp mà hỏi các Tỳ-kheo phương xa. Các Tỳ-kheo ấy vô cùng khen ngợi Hiền giả Mãn Từ Tử: ‘Tự mình ít ham muốn, biết đủ và khen ngợi hạnh ít ham muốn, biết đủ. Tự mình ở nơi thanh vắng và khen ngợi hạnh ở nơi thanh vắng. Tự mình tinh tấn và khen ngợi hạnh tinh tấn. Tự mình chánh niệm và khen ngợi hạnh chánh niệm. Tự mình chánh định và khen ngợi hạnh chánh định. Tự mình có trí tuệ và khen ngợi hạnh trí tuệ. Tự mình dứt sạch phiền não và khen ngợi hạnh dứt sạch phiền não. Tự mình mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ và khen ngợi hạnh mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ.”’
Tôn giả Xá-lợi-phất lại thầm nghĩ: “Biết lúc nào ta mới được gặp Hiền giả Mãn Từ Tử để hỏi một vài nghĩa lý. Không biết thầy ấy có thể lắng nghe những gì ta hỏi không?”
Bấy giờ, sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa ở thành Vương Xá, đức Thế Tôn vá sửa y áo cũng đã xong. Ngài xếp y, ôm bát rời thành Vương Xá đi dần đến nước Xá-vệ. Đến Xá-vệ rồi, Ngài cư ngụ trong Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Tôn giả Xá-lợi-phất và các Tỳ-kheo phương xa cùng ở lại thành Vương Xá vài ngày nữa, rồi xếp y, ôm bát đi dần đến nước Xá-vệ. Đến nước này rồi, tất cả cùng ở trong Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
[0430b06] Bấy giờ, sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa ở quê nhà, Tôn giả Mãn Từ Tử đã vá sửa y áo, xếp y ôm bát, rời quê nhà rồi đi dần về nước Xá-vệ. Đến nước này rồi, Tôn giả cũng an trú trong Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Tôn giả Mãn Từ Tử đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu kính lễ, trải tọa cụ9 rồi ngồi kiết-già trước đức Phật.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi các Tỳ-kheo khác:
– Thưa chư Hiền! Xin hỏi vị nào là Hiền giả Mãn Từ Tử?
Các Tỳ-kheo thưa Tôn giả Xá-lợi-phất:
– Dạ thưa, vị ngồi ngay trước Như Lai, trắng trẻo, mũi cao như mỏ chim oanh vũ, chính là Tôn giả ấy.
Tôn giả Xá-lợi-phất biết dung sắc Mãn Từ Tử rồi liền ghi nhớ kỹ.
Khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Tôn giả Mãn Từ Tử đắp y, ôm bát đi vào thành Xá-vệ khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Tôn giả cất y bát, rửa tay chân, xếp tọa cụ trên vai rồi đi đến rừng An-đà10 để kinh hành.
Cũng qua đêm đó, vào buổi sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất đắp y, ôm bát đi vào thành Xá-vệ khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Tôn giả cất y bát, rửa tay chân, xếp tọa cụ trên vai rồi đi đến rừng An-đà để kinh hành.
Bấy giờ, Tôn giả Mãn Từ Tử đến khu rừng An-đà, trải tọa cụ bên một gốc cây rồi ngồi kiết-già. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đến khu rừng ấy, cách Tôn giả Mãn Từ Tử không xa, trải tọa cụ bên một gốc cây rồi ngồi kiết-già.
Vào lúc xế chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ Tôn giả Mãn Từ Tử, cùng chào hỏi nhau xong, ngồi sang một bên và hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử:
– Thưa Hiền giả! Có phải Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh chăng?
Tôn giả Mãn Từ Tử đáp:
– Đúng thế!
– Thưa Hiền giả! Có phải vì để giới thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh chăng?
Tôn giả Mãn Từ Tử đáp:
– Thưa, không phải vậy!
– Có phải vì để tâm thanh tịnh, vì để thấy biết thanh tịnh, vì để nghi ngờ11 thanh tịnh, vì để nhận biết đường chánh và nẻo tà12 thanh tịnh, vì để nhận biết phương pháp tu tập13 thanh tịnh và vì con đường đưa đến trí đoạn trừ14 thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh chăng?
[0430c02] Tôn giả Mãn Từ Tử thưa:
– Không phải vậy!
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
– Tôi vừa hỏi: “Có phải Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh chăng?” Hiền giả đáp: “Đúng vậy!” Tôi hỏi Hiền giả rằng: “Có phải vì để giới thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh chăng?” Hiền giả đáp: “Không phải vậy!” Tôi lại hỏi: “Có phải vì để thấy biết thanh tịnh, vì để nghi ngờ thanh tịnh, vì để nhận biết đường chánh và nẻo tà thanh tịnh, vì để nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh và vì con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh chăng? Hiền giả lại đáp: “Không phải vậy!” Vậy theo nghĩa nào mà Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu Phạm hạnh?
Tôn giả Mãn Từ Tử thưa:
– Này Hiền giả, vì Vô dư Niết-bàn.
Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:
– Này Hiền giả! Có phải do giới thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm giảng dạy Vô dư Niết-bàn chăng?
– Không phải vậy!
– Có phải vì để tâm thanh tịnh, vì để thấy biết thanh tịnh, vì để nghi ngờ thanh tịnh, vì để nhận biết đường chánh và nẻo tà thanh tịnh, vì để nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh và vì con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm giảng dạy Vô dư Niết-bàn chăng?
– Không phải vậy!
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
– Tôi vừa hỏi Hiền giả: “Có phải vì để giới thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm giảng dạy Vô dư Niết-bàn chăng?” Hiền giả đáp: “Không phải!” Tôi hỏi: “Có phải vì để tâm thanh tịnh, vì để thấy biết thanh tịnh, vì để nghi ngờ thanh tịnh, vì để nhận biết đường chánh và nẻo tà thanh tịnh, vì để nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh và vì con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm giảng dạy Vô dư Niết-bàn chăng?” Hiền giả cũng đáp: “Không phải!” Vậy những điều Hiền giả nói có ý nghĩa gì? Làm sao để hiểu được?
Tôn giả Mãn Từ Tử thưa:
– Này Hiền giả! Nếu vì giới thanh tịnh nên Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm giảng dạy Vô dư Niết-bàn, tức là dùng Hữu dư để nói về Vô dư. Nếu vì để tâm thanh tịnh, vì để thấy biết thanh tịnh, vì để nghi ngờ thanh tịnh, vì để nhận biết đường chánh và nẻo tà thanh tịnh, vì để nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh và vì con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh nên đức Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm giảng dạy Vô dư Niết-bàn, tức là dùng Hữu dư để nói về Vô dư. Này Hiền giả!Nếu xa lìa những pháp ấy mà đức Thế Tôn giảng dạy Vô dư Niết-bàn thì hạng phàm phu cũng sẽ chứng đắc Niết-bàn, vì phàm phu cũng xa lìa những pháp ấy.
Này Hiền giả! Vì chỉ cần có giới thanh tịnh nên có được tâm thanh tịnh. Do vì tâm thanh tịnh nên có được thấy biết thanh tịnh. Do vì thấy biết thanh tịnh nên có được nghi ngờ thanh tịnh. Do vì nghi ngờ thanh tịnh nên có được sự nhận biết về đường chánh và nẻo tà thanh tịnh. Do vì nhận biết về đường chánh và nẻo tà thanh tịnh nên có được sự nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh. Do vì nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh nên có được con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh. Do vì con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh nên đức Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm thiết lập Vô dư Niết-bàn.
[0431a04] Này Hiền giả, xin hãy nghe thêm! Thuở xưa, vua xứ Câu-tát-la là Ba-tư-nặc15 ở nước Xá-vệ có công việc ở xứ Bà-kê-đế16 nên nhà vua đã suy nghĩ như vầy: “Cách tốt nhất hiện giờ để ta đi từ nước Xá-vệ đến xứ Bà-kê-đế là nên bố trí bảy cỗ xe ở giữa quãng đường đó.”
Bấy giờ, ở giữa quãng đường từ Xá-vệ đến Bà-kê-đế, nhà vua cho bố trí bảy cỗ xe. Bảy cỗ xe đã bố trí xong, từ Xá-vệ, nhà vua đi đến cỗ xe thứ nhất, cưỡi cỗ xe thứ nhất, đi đến cỗ xe thứ hai rồi bỏ cỗ xe thứ nhất; cưỡi cỗ xe thứ hai, đi đến cỗ xe thứ ba rồi bỏ cỗ xe thứ hai; cưỡi cỗ xe thứ ba, đi đến cỗ xe thứ tư rồi bỏ cỗ xe thứ ba; cưỡi cỗ xe thứ tư, đi đến cỗ xe thứ năm rồi bỏ cỗ xe thứ tư; cưỡi cỗ xe thứ năm, đi đến cỗ xe thứ sáu rồi bỏ cỗ xe thứ năm; cưỡi cỗ xe thứ sáu, đi đến cỗ xe thứ bảy rồi bỏ cỗ xe thứ sáu; cưỡi cỗ xe thứ bảy, trong một ngày thì đến Bà-kê-đế. Tại Bà-kê-đế, sau khi đã hoàn thành mọi việc, nhà vua cùng quần thần ngồi trong Chánh điện. Quần thần tâu:
“Tâu Thiên vương! Có phải chỉ trong một ngày mà ngài đi từ Xá-vệ đến Bà-kê-đế?”
Vua đáp:
“Đúng vậy!”
“Tâu Thiên vương! Có phải ngài cưỡi cỗ xe thứ nhất mà trong một ngày đi từ Xá-vệ đến Bà-kê-đế?”
Vua đáp:
“Không phải vậy!”
“Có phải ngài cưỡi cỗ xe thứ hai, cỗ xe thứ ba,... (cho đến) cỗ xe thứ bảy từ Xá-vệ đến Bà-kê-đế chăng?”
Vua đáp:
“Không phải vậy!”
Này Hiền giả! Nếu quần thần lại hỏi nữa thì Quốc vương xứ Câu-tát-la là Ba-tư-nặc sẽ trả lời thế nào? Có phải nhà vua sẽ trả lời quần thần: “Trẫm ở nước Xá-vệ, vì có công việc ở Bà-kê-đế nên trẫm suy nghĩ như vầy: ‘Trong một ngày, ta phải dùng phương tiện gì để có thể đi từ nước Xá-vệ đến được Bà-kê-đế?’ Ta lại suy nghĩ: ‘Cách tốt nhất hiện giờ để ta đi từ nước Xá-vệ đến xứ Bà-kê-đế là nên bố trí bảy cỗ xe ở giữa quãng đường đó.’ Ngay khi đó, ta từ nước Xá-vệ đi đến xứ Bà-kê-đế với bảy cỗ xe được bố trí ở giữa quãng đường đó. Xe bố trí xong, từ nước Xá-vệ, ta lên cỗ xe thứ nhất, cưỡi cỗ xe thứ nhất, đi đến cỗ xe thứ hai rồi bỏ cỗ xe thứ nhất; cưỡi cỗ xe thứ hai, đi đến cỗ xe thứ ba rồi bỏ cỗ xe thứ hai; cưỡi cỗ xe thứ ba, đi đến cỗ xe thứ tư rồi bỏ cỗ xe thứ ba; cưỡi cỗ xe thứ tư, đi đến cỗ xe thứ năm rồi bỏ cỗ xe thứ tư; cưỡi cỗ xe thứ năm, đi đến cỗ xe thứ sáu rồi bỏ cỗ xe thứ năm; cưỡi cỗ xe thứ sáu, đi đến cỗ xe thứ bảy rồi bỏ cỗ xe thứ sáu; cưỡi cỗ xe thứ bảy, trong một ngày thì đến Bà-kê-đế.”
[0431b04] Này Hiền giả! Vua xứ Câu-tát-la là Ba-tư-nặc trả lời câu hỏi của quần thần như vậy.
Cũng vậy, này Hiền giả! Do vì giới thanh tịnh nên có được tâm thanh tịnh. Do vì tâm thanh tịnh nên có được thấy biết thanh tịnh. Do vì thấy biết thanh tịnh nên có được nghi ngờ thanh tịnh. Do vì nghi ngờ thanh tịnh nên có được sự nhận biết về đường chánh và nẻo tà thanh tịnh. Do vì nhận biết về đường chánh và nẻo tà thanh tịnh nên có được sự nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh. Do vì nhận biết phương pháp tu tập thanh tịnh nên có được con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh. Do vì con đường đưa đến trí đoạn trừ thanh tịnh nên đức Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm thiết lập Vô dư Niết-bàn.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử:
– Tôn hiệu của Hiền giả là gì? Các vị Phạm hạnh gọi Hiền giả thế nào?
Tôn giả Mãn Từ Tử đáp:
– Hiền giả! Tôi hiệu là Mãn, thân mẫu tôi tên Từ, do đó những vị Phạm hạnh gọi tôi là Mãn Từ Tử.
Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Lành thay, lành thay! Hiền giả Mãn Từ Tử là đệ tử của đức Như Lai, thành tựu trí tuệ biện tài, thông minh quyết đoán, an ổn vô úy, thành tựu điều phục, được đại biện tài, được cờ bất tử,17 đã tự thân chứng ngộ và an trú trong cõi bất tử.18 Những gì thưa hỏi với Hiền giả đều được trả lời bằng những nghĩa lý vô cùng sâu xa. Hiền giả Mãn Từ Tử! Những người Phạm hạnh sẽ được lợi ích lớn nếu gặp được ngài và tùy thời thăm viếng, tùy thời lễ bái. Nay tôi cũng được lợi ích lớn vì đã tùy thời thăm viếng và tùy thời lễ bái. Những người Phạm hạnh vì để được lợi ích lớn thì cũng nên quấn y quanh đầu mà đội Hiền giả Mãn Từ Tử. Nay tôi cũng được lợi ích lớn, vì đã tùy thời thăm viếng và tùy thời lễ bái.
Tôn giả Mãn Từ Tử hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
– Hiền giả tôn hiệu là gì? Các vị Phạm hạnh gọi Hiền giả thế nào?
Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:
– Tôi hiệu là Ưu-ba-đề-xá,19 thân mẫu tôi tên Xá-lợi20 nên những người Phạm hạnh gọi tôi là Xá-lợi tử.
Tôn giả Mãn Từ Tử khen ngợi:
– Hôm nay, tôi đã bàn luận với đệ tử đức Thế Tôn mà không biết, cùng luận bàn với bậc Tôn quý thứ hai21 mà không biết, cùng luận bàn với vị Pháp tướng22 mà không biết, cùng luận bàn với đệ tử đấng Chuyển Pháp Luân, vị chuyển vận pháp luân lần nữa23 mà không biết. Nếu tôi biết ngài là Tôn giả Xá-lợi-phất thì tôi đã không thể trả lời nổi một câu, huống gì lại bàn luận sâu xa như thế. Lành thay, lành thay! Tôn giả Xá-lợi-phất, ngài là đệ tử đức Như Lai, thành tựu trí tuệ biện tài, thông minh quyết đoán, an ổn vô úy, thành tựu điều phục, được đại biện tài, được cờ bất tử, đã thành tựu và an trú trong cõi bất tử. Tôn giả đã hỏi những điều này rất sâu xa, rất sâu xa! Tôn giả Xá-lợi-phất! Những vị Phạm hạnh sẽ được lợi ích lớn nếu gặp ngài, tùy thời thăm viếng, tùy thời lễ bái. Nay tôi cũng được lợi ích lớn, vì đã tùy thời thăm viếng, tùy thời lễ bái. Những người Phạm hạnh vì để được lợi ích lớn thì nên quấn y quanh đầu mà đội Tôn giả Xá-lợi-phất. Nay tôi cũng được lợi ích lớn, vì đã tùy thời thăm viếng và tùy thời lễ bái.
Hai vị Hiền giả cùng nhau tán dương, cùng nhau khen ngợi như vậy rồi hoan hỷ phụng hành và cả hai đứng dậy, trở về chỗ của mình.

Chú Thích:
1 Nguyên tác: Thất xa kinh 七車經 (T.01. 0026.9. 0429c28). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.39.10. 0733c28); M. 24, Rathavinīta Sutta (Kinh trạm xe).
2 Vương Xá (王舍, Rājagaha), kinh đô của vương quốc Ma-kiệt-đà (摩竭陀, Magadha) do Vua Tần-bà-sa-la (頻婆娑羅, Bimbisāra) trị vì. Ngày nay, địa danh này thuộc quận Na-lan-đà (那蘭陀, Nāḷandā), tiểu bang Bihar, Ấn Độ và được gọi với nhiều tên khác như Vasumati, Barhadrathapura, Girivraja, Kusagrapura, Rajgir,…
3 Trúc Lâm tinh xá (竹林精舍, Veḷuvana vihāra), khu vườn ngoại thành Vương Xá do Vua Tần-bà-sa-la cúng dường cho đức Phật sau khi Ngài vừa thành đạo và lần đầu tiên trở về thăm Vua.
4 Mãn Từ Tử (滿慈子, Puṇṇa Mantāṇiputta) còn được gọi là Phú-lâu-na (富樓那) hay Mãn Nguyện Tử (滿願子).
5 Nguyên tác: Nhàn cư (閑居, pavivitta), cũng viết là “nhàn tịnh chi xứ” (閑靜之處), chỉ cho nơi nhàn tịnh, thanh vắng.
6 Nguyên tác: Nhất tâm (一心).
7 Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發,渴仰,成就歡喜). Cú ngữ này trong Du hành kinh 遊行經 (T.01. 0001.2. 0012b04) ghi là “thị, giáo, lợi, hỷ” (示, 教, 利, 喜); Tạp. 雜 (T.02. 0099.92. 0024a28) ghi là “thị, giáo, chiếu, hỷ” (示,教,照,喜); nghĩa là mở bày (示, sandasseti), khuyến khích, dạy bảo (教, samādapeti), khích lệ (鼓勵, samuttejeti) và khiến được hoan hỷ (使歡喜, sampahaṃseti). Ngài Huyền Trang (玄奘) dịch cú ngữ này là “thị hiện” (示現), “giáo đạo” (教導), “tán lệ” (讚勵), “khánh hỷ” (慶喜). Ngài Nghĩa Tịnh (義淨) dịch là “khai thị” (開示), “khuyến đạo” (勸導), “tán lệ” (讚勵), “khánh hỷ” (慶喜).
8 Nguyên tác: Tôn giả Xá-lê tử (尊者舍梨子, Sāriputta).
9 Nguyên tác: Ni-sư-đàn (尼師檀).
10 Nguyên tác: An-đà lâm (安陀林, Andhavana), còn gọi là vườn Trú-ám (晝闇園).
11 Nghi cái tịnh (疑蓋淨). Tăng. 增 (T.02. 0125.5.5. 0557c20) ghi là “vô do dự” (無猶豫) hay “vô do dự thanh tịnh” (無猶豫清淨).
12 Đạo phi đạo tri kiến tịnh (道非道知見淨): Thanh tịnh do thấy và biết về chánh đạo và không phải chánh đạo.
13 Đạo tích tri kiến tịnh (道跡知見淨): Thanh tịnh do thấy biết về con đường tu tập.
14 Đạo tích đoạn trí tịnh (道跡斷智淨). A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論 (T.28. 1546.18. 0132c24) giải thích: Đoạn trừ tất cả tham, sân, si và đoạn trừ tất cả phiền não, gọi là đoạn trí (若一切愛恚癡斷,一切煩惱斷,名為斷智).
15 Ba-tư-nặc (波斯匿, Pasenadi), vua nước Kosala trong thời đức Phật, là con của Mahākosala. Vua Pasenadi có những liên hệ gần gũi và sâu sắc đối với đức Phật và giáo pháp. Đặc biệt, Kinh Tương ưng bộ dành nguyên một chương tổng hợp những pháp thoại của đức Phật có nội dung liên hệ đến ông, gọi là Tương ưng Kosala (S. 1.3). Nhà vua có một người con trai tên là Brahmadatta, xuất gia và chứng quả A-la-hán.
16 Bà-kê-đế (婆雞帝, Saketa), một thị trấn của nước Kosala. Theo DPPN, có lẽ đó là kinh đô xưa của Kosala.
17 Cam lộ tràng (甘露幢): Ngọn cờ bất tử, ngọn cờ chiến thắng. Xem thêm S. I. 218.
18 Cam lộ giới (甘露界, amatadhātu) chỉ cho cõi bất tử, là tên khác của giải thoát.
19 Ưu-ba-đề-xá (優波鞮舍, Upatissa).
20 Nguyên tác: Xá-lê (舍梨, Sāri).
21 Đệ nhị tôn (弟二尊). Tôn xưng như thế vì Tôn giả Xá-lợi-phất được kính trọng, dưới đức Phật chỉ một bậc.
22 Pháp tướng (法將, Dhammasenāpati): Vị Tướng quân của Chánh pháp.
23 Tham chiếu: M. 92, Sela Sutta (Kinh Sela) ghi là Sāriputto anuvatteti, anujāto tathāgataṃ (chính Sāriputta chuyển bánh xe Chánh pháp, thừa tự Như Lai vị), HT. Thích Minh Châu dịch.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.