Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ giảng nói cho các thầy về bảy nơi mà bậc Hiền thiện2 đi đến và thể nhập Vô dư Niết-bàn.3 Các thầy hãy lắng nghe, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ!
Lúc đó, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Phật dạy:
– Bảy nơi ấy gồm những gì? Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, ở tương lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu4 thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả,5 không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.6” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh7 nhưng vẫn chưa được chứng ngộ.8 Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như đốt trấu, vừa nhúm lên liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ, nhưng năm hạ phần kiết sử đã diệt trừ hết, chứng đắc Trung Bát-niết-bàn.9 Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ nhất. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như nung sắt cháy đỏ rực rồi dùng búa đập, mạt lửa văng lên hư không rồi liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ nhưng năm hạ phần kiết sử đã diệt trừ hết, chứng đắc Trung Bát-niết-bàn. Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ hai. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
[0427b03] Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như nung sắt cháy đỏ rực rồi dùng búa đập, mạt lửa văng lên hư không rồi rơi xuống lại nhưng chưa chạm đất liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo cũng lại như thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ, nhưng năm hạ phần kiết sử đã diệt trừ hết, chứng Trung Bát-niết-bàn. Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ ba. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như nung sắt cháy đỏ rực rồi dùng búa đập, mạt lửa văng lên rồi rơi xuống, chạm đất thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo cũng lại như thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ, nhưng năm hạ phần kiết sử đã diệt trừ hết, chứng Sanh Bát-niết-bàn.10 Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ tư. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã và cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã và cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như nung sắt cháy đỏ rực rồi dùng búa đập, mạt lửa văng lên rồi rơi xuống trên nhúm cỏ cây, liền bốc khói hoặc bùng cháy, vừa cháy liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo cũng lại như thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ, nhưng năm hạ phần kiết sử đã đoạn trừ hết, chứng Hành Bát-niết-bàn.11 Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ năm. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như nung sắt cháy đỏ rực rồi dùng búa đập, mạt lửa văng lên hư không rồi rơi xuống trên đám cỏ cây, liền bốc khói hoặc bùng cháy, cháy hết mới tắt. Nên biết, Tỳ-kheo cũng lại như thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ, nhưng năm hạ phần kiết sử đã diệt trừ hết, chứng Vô hành Bát-niết-bàn.12 Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ sáu. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
[0427c06] Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế thì sẽ đi đến nơi nào? Ví như nung sắt cháy đỏ rực rồi dùng búa đập, mạt lửa văng lên hư không, rơi xuống đống cỏ cây, liền bốc khói rồi bùng cháy cả thôn ấp, thành trì, rừng núi, đồng nội. Ngọn lửa thiêu rụi hết thôn ấp, thành trì, rừng núi, đồng nội, hoặc cháy lan đến đường đi, hoặc mé nước rồi đến đất bằng thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo cũng lại như thế, còn chút ít mạn chưa diệt trừ, nhưng năm hạ phần kiết sử đã diệt trừ hết, chứng Thượng lưu A-ca-nị-tra Niết-bàn.13 Đó là nơi đi đến của bậc Hiền thiện thứ bảy. Thế gian quả thật có hạng người như vậy.
Thế nào là Vô dư Niết-bàn? Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: “Ta vốn không có ngã cũng không có ngã sở, vị lai không có ngã cũng không có ngã sở, những gì thuộc về sanh hữu thì phải đoạn trừ. Sau khi đoạn trừ thì đạt được xả, không đắm nhiễm nơi hữu, không dính mắc nơi sanh.” Thực hành như thế thì có trí tuệ và thấy được con đường vô thượng tịch tĩnh và đã được chứng ngộ. Ta nói rằng, Tỳ-kheo đó không cần đến phương Đông, không cần đến phương Tây, phương Nam, phương Bắc, bốn phương phụ và hai phương trên dưới mà ngay trong hiện đời chứng được đạo tịch tĩnh, diệt độ.
Ta đã giảng nói về bảy nơi mà bậc Hiền thiện đi đến và nhập Vô dư Niết-bàn, là nhân đó mà nói.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Quyển 2. Nguyên tác: Thiện nhân vãng kinh 善人往經 (T.01. 0026.6. 0427a13). Tham chiếu: A. 7.55 - IV. 70.
2 Thiện nhân (善人) chỉ cho bậc Chân nhân (Sappurisa), hạng người đã bước vào dòng Thánh.
3 Vô dư Niết-bàn (無餘涅槃). Tăng. 增 (T.02. 0125.16.2. 0578a12) định nghĩa: Thế nào gọi là cảnh giới Vô dư Niết-bàn? Đó là vị Tỳ-kheo dứt sạch hữu lậu, thành tựu vô lậu, được tâm giải thoát, được tuệ giải thoát, tự thân tác chứng rồi tự an trú và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Đó gọi là cảnh giới Vô dư Niết-bàn. (云何名為無餘涅槃界?於是,比丘盡有漏成無漏,意解脫,智慧解脫自身作證而自遊戲:生死已盡,梵行已立,更不受有,如實知之,是謂為無餘涅槃界). Đại trí độ luận 大智度論 (T.25. 1509.031. 0288c07) bổ sung: Thân ngũ uẩn của bậc Thánh trong đời hiện tại được đoạn trừ, lại không tiếp tục thọ thân nữa, nên gọi là Vô dư Niết-bàn (聖人今世所受五眾盡, 更不復受, 是名無餘涅槃). Theo A. 7.55 - IV. 70, gọi là Niết-bàn không còn chấp thủ (Anupādāparinibbāna, 無取著般涅槃).
4 Nguyên tác: Dĩ hữu (已有). Tham chiếu: A. 7.55 - IV. 70: Yadatthi yaṃ bhūtaṃ (những gì có mặt, những gì hiện hữu).
5 Đắc xả (得捨, upekkhaṃ paṭilabhati): Đạt được tâm xả.
6 Hữu lạc bất nhiễm, hiệp hội bất trước (有樂不染, 合會不著). P: So bhave na rajjati, sambhave na rajjati (vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Vô thượng tức tích (無上息跡): Con đường tịch tĩnh tối thượng.
8 Vị đắc chứng (未得證). Theo A. 7.55 - IV. 70: Taṃ ca khvassa padaṃ na sabbena sabbaṃ sacchikataṃ hoti (vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy), HT. Thích Minh Châu dịch.
9 Trung Bát-niết-bàn (中般涅槃, Antarāparinibbāyī). Tập dị môn túc luận 集異門足論 (T.26. 1536.14. 0426a03) giải thích: Đó là hạng người ngay trong đời hiện tại đã đoạn trừ 5 hạ phần kiết nhưng chưa đoạn trừ được 5 thượng phần kiết, dị thục nghiệp được sanh khởi, tạo tác và tăng trưởng rồi sanh phi dị thục nghiệp. Khi thân hoại mạng chung, vị đó nương thân trung hữu để sanh lên trời Sắc giới rồi chứng đắc như thật vô lậu đạo lực, tiến lên đoạn trừ các kiết sử còn lại và chứng nhập Niết-bàn, đó gọi là hạng người Trung Bát-niết-bàn (諸有補特伽羅,即於現法已斷五順下分結,未斷五順上分結,造作增長起異熟業,非生異熟業,身壞命終彼色界天中有起已便得如是無漏道力,進斷餘結而般涅槃,是名中般涅槃補特伽羅). Về từ “trung hữu” (中有), Tam-di-để bộ luận 三彌底部論 (T.32. 1649.2. 0467b20) cho biết đó chính là “thân trung ấm.”
10 Sanh Bát-niết-bàn (生般涅槃, Upahaccaparinibbāyī). Tập dị môn túc luận 集異門足論 (T.26. 1536.14. 0426a12) giải thích: Đó là hạng người ở ngay trong đời hiện tại đã đoạn trừ, đã biết rõ 5 hạ phần kiết nhưng chưa đoạn trừ và chưa biết rõ 5 thượng phần kiết, dị thục nghiệp được sanh khởi, tạo tác và tăng trưởng rồi sanh phi dị thục nghiệp. Khi thân hoại mạng chung, vị đó nương thân trung hữu để sanh lên và an trú ở trời Sắc giới. Khi sanh vào cõi đó chưa bao lâu thì chứng đắc như thật Vô lậu đạo lực rồi tiến lên đoạn trừ các kiết sử còn lại và chứng nhập Niết-bàn, đó gọi là hạng người Sanh Bát-niết-bàn (諸有補特伽羅,即於現法五順下分結已斷已遍知,五順上分結未斷未遍知,造作增長起異熟業及生異熟業,身壞命終彼生色界天中有起已往生色界,生已不久便得如是無漏道力,進斷餘結而般涅槃,是名生般涅槃補特伽羅).
11 Hành Bát-niết-bàn (行般涅槃) hay Hữu hành Bát-niết-bàn (有行般涅槃, Sasaṅkhāraparinibbāyī). Tập dị môn túc luận 集異門足論 (T.26. 1536.14. 0426a23) giải thích: Đó là hạng người ở ngay trong đời hiện tại đã đoạn trừ, đã biết rõ 5 hạ phần kiết nhưng chưa đoạn trừ và chưa biết rõ 5 thượng phần kiết, dị thục nghiệp được sanh khởi, tạo tác và tăng trưởng rồi sanh phi dị thục nghiệp. Khi thân hoại mạng chung, vị đó nương thân trung hữu để sanh lên và an trú ở trời Sắc giới. Khi sanh vào cõi đó một thời gian, do nương vào sự tu tập, nương vào sự nỗ lực, nhờ vào nỗ lực mà tác ý tu tập không ngưng nghỉ về các trợ đạo, để rồi sau đó đoạn trừ các kiết sử còn lại và chứng nhập Niết-bàn, đó gọi là hạng người Hữu hành Bát-niết-bàn (諸有補特伽羅,即於現法五順下分結已斷已遍知,五順上分結未斷未遍知,造作增長起異熟業及生異熟業,身壞命終彼色界天中有起已往生色界,生已後時依有行道,以有勤行,有勤作意修不息加行道,進斷餘結而般涅槃,是名有行般涅槃補特伽羅).
12 Vô hành Bát-niết-bàn (無行般涅槃, Asaṅkhāraparinibbāyī): Sau khi tái sanh ở trời Sắc giới, không do nỗ lực tu tập mà nhập Niết-bàn. Tập dị môn túc luận 集異門足論 (T.26. 1536.14. 0426b07) giải thích: Đó là hạng người ở ngay trong đời hiện tại đã đoạn trừ, đã biết rõ 5 hạ phần kiết nhưng chưa đoạn trừ và chưa biết rõ 5 thượng phần kiết, dị thục nghiệp được sanh khởi, tạo tác và tăng trưởng rồi sanh phi dị thục nghiệp. Khi thân hoại mạng chung, vị đó nương thân trung hữu để sanh lên và an trú ở trời Sắc giới. Khi sanh vào cõi đó một thời gian, không cần nương vào sự tu tập, không cần nỗ lực, không cần nỗ lực tác ý tu tập không ngưng nghỉ các trợ đạo để rồi sau đó đoạn trừ các kiết sử còn lại và chứng nhập Niết-bàn, đó gọi là hạng người Vô hành Bát-niết-bàn (諸有補特伽羅,即於現法五順下分結已斷已遍知五順上分結未斷未遍知,造作增長起異熟業及生異熟業,身壞命終彼色界天中有起已往生色界,生已後時依無行道,以無勤行,無勤作意修止息加行道進斷餘結,入無餘依般涅槃界,是名無行般涅槃補特伽羅).
13 Thượng lưu A-ca-ni-trá Niết-bàn (上流阿迦尼吒涅槃, Uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmin) hay Thượng lưu Sắc Cứu Cánh Niết-bàn (上流色究竟涅槃). Tập dị môn túc luận 集異門足論 (T.26. 1536.14. 0426b18) giải thích: Đó là hạng người ở ngay trong đời hiện tại đã đoạn trừ, đã biết rõ 5 hạ phần kiết nhưng chưa đoạn trừ và chưa biết rõ năm thượng phần kiết… rồi lần lượt tái sanh nơi cõi Vô Phiền thiên (無煩天), là cõi thứ nhất của ngũ Tịnh Cư thiên (五淨居天), sau đó tiếp tục thanh lọc tâm tại 3 cõi kế: Vô Nhiệt thiên (無熱天), Thiện Kiến thiên (善見天), Thiện Hiện thiên (善現天), cuối cùng là cõi Sắc Cứu Cánh thiên (色究竟天) rồi thể nhập Niết-bàn ở đó.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.