Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Như vương thành ở biên giới2 có đầy đủ bảy điều và bốn loại lương thực dồi dào, dễ tìm chứ không khó, do đó vương thành không bị giặc bên ngoài đánh phá, chỉ trừ bên trong tự phá hoại.
Thế nào là vương thành có đầy đủ bảy điều? Đó là, vương thành ở biên giới xây cất những vọng gác, đắp đất cho chắc chắn, không thể phá vỡ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ nhất của vương thành.
Lại nữa, như vương thành ở biên giới có đào hào, vét ao cho thật sâu rộng, sửa sang vững chắc để có thể nương tựa, làm cho bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ hai của vương thành.
Lại nữa, những con đường nối liền chung quanh vương thành ở biên giới được dọn dẹp cho bằng phẳng, rộng rãi để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ ba của vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới tập hợp sức mạnh của bốn loại binh chủng là quân voi, quân ngựa, quân xe, quân bộ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ tư của vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới chuẩn bị sẵn binh khí như cung, tên, mâu và kích để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ năm của vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới lập vị Đại tướng trấn thủ, sáng suốt, thao lược, trí tuệ, khéo léo, dõng mãnh, cương nghị, giỏi mưu chước, người hiền thiện thì cho vào, kẻ bất lương thì ngăn cấm để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ sáu của vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới xây đắp tường cao cho thật vững chắc, trét bùn, tô đất để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là sự đầy đủ thứ bảy của vương thành.
Thế nào là bốn loại lương thực dồi dào, dễ tìm chứ không khó? Đó là, vương thành ở biên giới luôn chuẩn bị sẵn nước, cỏ, củi và gỗ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là loại lương thực thứ nhất, dồi dào và dễ tìm chứ không khó ở vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới gom góp nhiều lúa gạo và tích trữ nhiều lúa mạch để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là loại lương thực thứ hai, dồi dào và dễ tìm chứ không khó ở vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới tích trữ nhiều mè, đậu đỏ và các loại đậu khác để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là loại lương thực thứ ba, dồi dào và dễ tìm chứ không khó ở vương thành.
Lại nữa, vương thành ở biên giới cất chứa bơ, dầu, mật, mía, đường, cá, muối và thịt khô, tất cả đều đầy đủ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài, đó là loại lương thực thứ tư, dồi dào và dễ tìm chứ không khó ở vương thành.
Như vậy, vương thành đầy đủ bảy điều, bốn loại lương thực dồi dào và dễ tìm chứ không khó, nên không bị giặc bên ngoài đánh phá, chỉ trừ bên trong tự phá hoại.
[0423a11] Cũng vậy, nếu vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp lành, đạt được bốn tâm tăng thượng,3 dễ dàng chứ không khó thì vị Thánh đệ tử đó không bị Ma vương quấy phá, cũng không theo các pháp ác, bất thiện, không bị phiền não làm nhiễm ô, không còn tái sanh nữa.
Thế nào là bảy pháp lành mà vị Thánh đệ tử đạt được? Đó là, vị Thánh đệ tử có niềm tin kiên cố, sâu xa đối với Như Lai, gốc tin đã vững, trọn đời không theo Sa-môn, Phạm chí ngoại đạo cũng như Thiên, Ma, Phạm thiên và hàng thế gian khác, đó là pháp lành thứ nhất mà vị Thánh đệ tử đạt được.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử thường giữ hạnh biết xấu hổ, điều đáng xấu hổ thì biết xấu hổ. Xấu hổ với những pháp ác, bất thiện và phiền não nhiễm ô khiến phải nhận chịu các quả báo xấu ác, tạo gốc rễ sanh tử, đó là pháp lành thứ hai mà vị Thánh đệ tử đạt được.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử thường giữ hạnh biết tự thẹn, điều đáng tự thẹn thì biết tự thẹn. Tự thẹn với những pháp ác, bất thiện và phiền não nhiễm ô khiến phải nhận chịu các quả báo xấu ác, tạo gốc rễ sanh tử, đó là pháp lành thứ ba mà vị Thánh đệ tử đạt được.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử thường thực hành hạnh tinh tấn, đoạn trừ pháp ác và bất thiện, tu các pháp thiện, thường giữ gìn tâm vững chãi, chuyên nhất, tạo các gốc lành, nỗ lực không buông bỏ, đó là pháp lành thứ tư mà vị Thánh đệ tử đạt được.
Lại nữa, Thánh đệ tử học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự học rộng. Đối với những pháp phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh, những pháp như thế thì hãy học rộng nghe nhiều, luyện tập đến cả ngàn lần4 khiến tâm chuyên chú, tư duy quán sát để thấu rõ và hiểu sâu, đó là pháp lành thứ năm mà vị Thánh đệ tử đạt được.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử thường thực hành niệm, thành tựu chánh niệm. Những điều đã từng học tập từ lâu, đã từng nghe từ lâu thì ghi nhớ không quên, đó là pháp lành thứ sáu mà vị Thánh đệ tử đạt được.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử tu hành trí tuệ, quán sát sự hưng suy5 của các pháp nên đạt được trí tuệ như vậy, là tuệ minh đạt của bậc Thánh,6 nhờ đó nên đã phân biệt rõ ràng và diệt sạch hoàn toàn đau khổ,7 đó là pháp lành thứ bảy mà vị Thánh đệ tử đạt được.
[0423b04] Thế nào là bốn tâm tăng thượng dễ được chứ không khó mà vị Thánh đệ tử đạt đến? Đó là, vị Thánh đệ tử lìa dục, lìa pháp ác và bất thiện, có giác có quán, có hỷ và lạc được sanh ra do viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, đó là tâm tăng thượng thứ nhất, dễ đạt được chứ không khó mà vị Thánh đệ tử đạt đến.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử đã diệt trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, có hỷ và lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, đó là tâm tăng thượng thứ hai, dễ đạt được chứ không khó mà vị Thánh đệ tử đạt đến.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trú xả vô cầu, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, đó là tâm tăng thượng thứ ba, dễ đạt được chứ không khó mà vị Thánh đệ tử đạt đến.
Lại nữa, Thánh đệ tử buông bỏ cả khổ và vui, diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, không khổ không vui, xả và niệm đều thanh tịnh, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, đó là tâm tăng thượng thứ tư, dễ đạt được chứ không khó mà vị Thánh đệ tử đạt đến.
Như vậy, vị Thánh đệ tử đạt được bảy pháp lành, đạt đến bốn tâm tăng thượng, dễ đạt được chứ không khó, không bị Ma vương quấy phá, cũng chẳng theo pháp ác và bất thiện, không bị phiền não nhiễm ô, không còn thọ sanh trở lại.
Như vương thành ở biên giới xây cất vọng gác, đắp đất cho chắc, không thể phá vỡ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử có niềm tin kiên cố, sâu xa đối với Như Lai, gốc tin đã vững, trọn đời không theo Sa-môn, Phạm chí ngoại đạo, cũng như Thiên, Ma, Phạm thiên và các hạng thế gian khác, đó là vị Thánh đệ tử có vọng gác tín tâm để diệt trừ pháp ác, bất thiện và tu tập các pháp thiện.
Như vương thành ở biên giới đào hào, vét ao thật sâu rộng, sửa sang vững chắc để có thể nương tựa, làm cho bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử thực hành hạnh xấu hổ, điều đáng xấu hổ thì biết xấu hổ. Xấu hổ với những pháp ác, bất thiện, phiền não nhiễm ô khiến phải thọ nhận các quả báo xấu ác, tạo gốc rễ sanh tử, đó là vị Thánh đệ tử có ao hồ xấu hổ để diệt trừ pháp ác và bất thiện, tu tập các pháp thiện.
Như vương thành ở biên giới dọn dẹp những con đường nối liền chung quanh cho bằng phẳng, rộng rãi để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử thường thực hành hạnh biết thẹn, điều đáng thẹn thì biết thẹn. Tự thẹn với những pháp ác, bất thiện và phiền não nhiễm ô khiến phải thọ nhận các quả báo xấu ác, tạo gốc rễ sanh tử, đó là vị Thánh đệ tử có con đường biết thẹn bằng phẳng để diệt trừ pháp ác và bất thiện, tu tập các pháp thiện.
[0423c03] Như vương thành ở biên giới tập hợp sức mạnh của bốn loại binh chủng gồm quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ để bên trong được yên ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử thường thực hành tinh tấn, đoạn trừ pháp ác, bất thiện và tu tập các pháp thiện, thường giữ gìn tâm vững chãi, chuyên nhất, tạo các gốc thiện, nỗ lực không buông bỏ, đó là vị Thánh đệ tử có sức mạnh của đội quân tinh tấn để diệt trừ pháp ác, bất thiện và tu tập các pháp thiện.
Như vương thành ở biên giới chuẩn bị sẵn binh khí như cung, tên, mâu và kích để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự học rộng. Đối với những pháp phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh, các pháp như thế cần học rộng nghe nhiều, luyện tập đến cả ngàn lần, khiến tâm chuyên chú, tư duy quán sát để thấu rõ, hiểu sâu, đó là vị Thánh đệ tử có binh khí đa văn để diệt trừ pháp ác, bất thiện và tu tập các pháp thiện.
Như vương thành ở biên giới lập vị Đại tướng trấn thủ sáng suốt, thao lược, trí tuệ, khéo léo, dõng mãnh, cương nghị, giỏi mưu chước; người hiền thiện thì cho vào, kẻ bất lương thì ngăn cấm để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử thường thực hành niệm, thành tựu chánh niệm, những gì đã từng học tập từ lâu, đã từng nghe từ lâu thì ghi nhớ không quên, đó là vị Thánh đệ tử có Đại tướng trấn giữ để diệt trừ pháp ác và bất thiện, tu tập các pháp thiện.
Như vương thành ở biên giới xây đắp tường cao cho thật kiên cố, trét bùn, tô đất để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử tu hành trí tuệ, quán sát sự hưng suy của các pháp nên đạt được trí tuệ như vậy, là tuệ minh đạt của bậc Thánh, nhờ đó đã phân biệt rõ ràng và diệt sạch hoàn toàn đau khổ, đó là vị Thánh đệ tử có bức tường trí tuệ để diệt trừ pháp ác, bất thiện và tu tập các pháp thiện.
Như vương thành ở biên giới có chuẩn bị sẵn nước, cỏ, củi và gỗ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử lìa dục, lìa pháp ác và bất thiện, có giác có quán, có hỷ và lạc được sanh ra do viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, sống an lạc không thiếu thốn, an ổn hân hoan,8 tự mình đạt đến Niết-bàn.
Như vương thành ở biên giới gom góp nhiều lúa gạo và tích trữ nhiều lúa mạch để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử đã diệt trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, có hỷ và lạc do định sanh, thành tựu và an trú Thiền thứ hai, sống an lạc không thiếu thốn, an ổn hân hoan, tự mình đạt đến Niết-bàn.
[0424a02] Như vương thành ở biên giới chứa nhiều mè, đậu đỏ và các loại đậu khác để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trú xả vô cầu, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, sống an lạc không thiếu thốn, an ổn hân hoan, tự mình đạt đến Niết-bàn.
Như vương thành ở biên giới chứa cất bơ, dầu, mật, mía, đường, cá, muối và thịt khô, tất cả đều đầy đủ để bên trong được an ổn và ngăn chặn giặc thù bên ngoài; cũng vậy, vị Thánh đệ tử buông bỏ cả khổ và vui, diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, không khổ không vui, xả và niệm đều thanh tịnh, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, sống an lạc không thiếu thốn, an ổn hân hoan, tự mình đạt đến Niết-bàn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích
1 Nguyên tác: Thành dụ kinh 城喻經 (T.01. 0026.3. 0422c9). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.39.4. 0730b02); A. 7.67 - IV. 106.
2 Nguyên tác: Vương biên thành (王邊城). Theo A. 7.67 - IV. 106: Nagaropama, gồm 2 thành tố: Nagara + upama. Nagara nghĩa là thành quách, upama là những thứ tương tự như thế.
3 Tứ tăng thượng tâm (四增上心) tức an trụ trong Tứ thiền (sẽ được giải thích phần sau bài kinh).
4 Ngoạn tập chí thiên (翫習至千). Thập thượng kinh 十上經 (T.01. 0001.10. 0054c28) ghi là “thủ trì bất vong” (守持不忘).
5 Quán hưng suy pháp (觀興衰法). Thập thượng kinh 十上經 (T.01. 0001.10. 0057a17) ghi là “quán pháp sanh diệt” (觀法生滅); Tạp. 雜 (T.02. 0099. 103. 0030c01) ghi là “quán sát sanh diệt” (觀察生滅); Tạp. 雜 (T.02. 0099.254. 0063b09) ghi là “đế quán pháp sanh diệt” (諦觀法生滅).
6 Tuệ minh đạt (慧明達) còn gọi là “tuệ quyết trạch” (nibbedhikapaññā), là trí tuệ thấu suốt mọi việc.
7 Chánh tận khổ (正盡苦). Chánh (正, sammā) còn có nghĩa là hoàn toàn.
8 An ẩn khoái lạc (安隱快樂). An ẩn (安隱, phāsu) nghĩa là sự an lạc, dễ chịu. Khoái lạc (快樂, pāmojja) nghĩa là hân hoan. Tham chiếu: A. 10.1 - V. 1 ghi là “Avippaṭisāro kho, ānanda, pāmojjattho pāmojjānisaṃso”ti (Này Ānanda, không có hối tiếc đưa đến hân hoan, có lợi ích hân hoan), HT. Thích Minh Châu dịch.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.