Viện Nghiên Cứu Phật Học

2. KINH CÂY TRÚ ĐỘ1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nếu lá cây Trú Độ2 ở cõi trời Ba Mươi Ba úa vàng, lúc đó thiên chúng ở cõi trời này hân hoan vui mừng, cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ rụng. Thế rồi, lá cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba đã rụng, lúc đó thiên chúng ở cõi trời này hân hoan vui mừng, cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ ra lá trở lại. Thế rồi, cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba đã ra lá trở lại, lúc đó thiên chúng ở cõi trời này hân hoan vui mừng, cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ chớm nụ như màng lưới.3 Thế rồi, cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba đã chớm nụ như màng lưới, lúc đó thiên chúng ở cõi trời này hân hoan vui mừng, cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở nụ giống như mỏ chim. Thế rồi, cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba đã nở nụ giống như mỏ chim, lúc đó thiên chúng ở cõi trời này hân hoan vui mừng, cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở hoa giống như cái bát. Thế rồi, cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba đã nở hoa như cái bát, lúc đó thiên chúng ở cõi trời này hân hoan vui mừng, cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa hoa sẽ nở tròn trịa. Nếu cây Trú Độ nở hoa tròn trịa thì phát ra ánh sáng, màu sắc và tỏa ra hương thơm trong chu vi một trăm do-diên.4 Bấy giờ, vào bốn tháng mùa hạ, thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba vui đùa với năm thứ dục lạc5 cõi trời. Đó gọi là cõi trời Ba Mươi Ba nhóm họp vui chơi hưởng lạc dưới cây Trú Độ.
[0422b06] Với ý nghĩa như thế, vị Thánh đệ tử cũng vậy, khi suy nghĩ đến việc xuất gia thì lúc đó, vị Thánh đệ tử như chiếc lá úa vàng, giống như lá cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba úa vàng.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình để học đạo thì lúc đó, vị Thánh đệ tử được gọi là lá rụng, như lá cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba rụng xuống.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử lìa dục, lìa pháp ác và bất thiện, có giác có quán,6 có hỷ và lạc được sanh ra do viễn ly rồi chứng đạt và an trú7 Thiền thứ nhất.8 Lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là sanh trở lại, như cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba ra lá trở lại.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử đã tịnh trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, có hỷ và lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai.9 Lúc đó, vị Thánh đệ tử được gọi là chớm nụ như màng lưới, như cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba chớm nụ như màng lưới.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trú xả vô cầu, cùng với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.10 Lúc đó, vị Thánh đệ tử được gọi là nở nụ như mỏ chim, như cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba nở nụ như mỏ chim.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử buông bỏ cả khổ và vui, diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, không khổ không vui, xả và niệm đều thanh tịnh, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư.11 Lúc đó, vị Thánh đệ tử được gọi là nở hoa như cái bát, như cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba nở hoa như cái bát.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử trừ sạch mọi phiền não, được Tâm giải thoát,12 được Tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại tự biết, tự giác ngộ, tự chứng đắc, thành tựu và an trú và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Lúc đó, vị Thánh đệ tử được gọi là hoa nở tròn trịa, như cây Trú Độ ở cõi trời Ba Mươi Ba nở hoa tròn trịa. Đó là vị Tỳ-kheo A-la-hán dứt sạch phiền não,13 được cõi trời Ba Mươi Ba nhóm họp tại chánh điện Thiện Pháp ân cần khen ngợi rằng: “Vị Thánh đệ tử tôn quý đó, ở tại thôn ấp đó, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình để học đạo, đã sạch phiền não, được Tâm giải thoát, được Tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại tự biết, tự giác ngộ, tự chứng đắc, thành tựu và an trú, biết như thật rằng: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’” Như thế gọi là các A-la-hán trừ sạch phiền não cùng nhóm họp như thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba cùng nhóm họp dưới cây Trú Độ vậy.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích:

1 Nguyên tác: Trú Độ thọ kinh 晝度樹經 (T.01. 0026.2. 0422a18). Tham chiếu: Viên Sanh thọ kinh 園生樹經 (T.01. 0028. 0810c03); Tăng. 增 (T 02. 0125.39.2. 0729b11); A. 7.69 - IV. 117.
2 Trú Độ thọ (晝度樹, Pārichattaka, Pārijāta), cây này sanh trưởng trong vườn Nan-đà (Nandanavana), bên ngoài Thiện Pháp đường (Sudhammāsālā), trên cõi trời Đao-lợi (Tāvatiṃsa). Tăng. 增 (T.02. 0125.39.2. 0729b11) mô tả gốc cây to 50 do-tuần, cao 100 do-tuần, bóng cây che phủ 4 phía rộng 50 do-tuần.
3 Sanh võng (生網, jālakajāta): Nảy chồi non.
4 Do-diên (由延, yojana) còn gọi do-tuần (由旬), du-thiện-na (踰繕那), du-xà-na (踰闍那), là đơn vị đo độ dài, khoảng cách. Theo Đại Đường Tây Vức ký 大唐西域記 (T.51. 2087.2. 0875c06), du-thiện-na là khoảng cách một ngày hành quân của bậc Thánh vương thuở xưa. Theo người xưa truyền lại, một du-thiện-na là 40 lý; theo cách tính của Ấn Độ chính là 30 lý. Trong kinh điển Phật giáo ghi nhận chỉ còn 16 lý (踰繕那者自古聖王一日軍行也. 舊傳踰繕那四十里矣印度國俗乃三十里. 聖教所載唯十六里).
5 Ngũ dục công đức (五欲功德). Theo S. 35.117 - IV. 97, nguyên tác là pañca kāmaguṇa (năm loại dục). Do vận dụng nghĩa chưa thích hợp nên một số bản kinh chữ Hán đã dịch thành “ngũ dục công đức” (五欲功德). Ở đây, guṇa có nghĩa đầu tiên là công đức (功德), nhưng nghĩa kế tiếp là chủng loại (種類). Đơn cử như diguṇa là “nhị chủng” (二重). Do vậy, “ngũ dục công đức” (五欲功德) cần được hiểu là “năm loại dục” (五種欲). Ngay từ thời Hậu Hán, ngài An Thế Cao đã sử dụng nghĩa “năm loại dục” (五種欲) trong Lậu phân bố kinh 漏分布經 (T.01. 0057. 0852c23).
6 Hữu giác hữu quán (有覺有觀). Ngài Huyền Trang dịch là “tầm” (尋) và “tứ” (伺). Đó là 2 thuộc tính của tâm (tâm sở), đồng thời là 2 thiền chi của Thiền thứ nhất.
7 Thành tựu du (成就遊). Tăng. 增 (T.02. 0125.10.1. 0563c24) ghi là “tự du hý, tự ngô lạc” (自遊戲, 自娛樂); Tạp. 雜 (T.02. 0099.35. 0008a10) ghi là “cụ túc trụ” (具足住). A. 7.69 - IV. 117: Upasampajja viharati (thành tựu và an trụ).
8 Theo Thất bảo kinh 七寶經 (T.01. 0026.58. 0788c19), Thiền thứ nhất có 5 chi, gồm: giác (覺), quán (觀), hỷ (喜), lạc (樂) và nhất tâm (一心). Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.28. 0146c04), Thiền thứ nhất có 5 chi, gồm: tầm (尋), tứ (伺), hỷ (喜), lạc (樂) và định (定).
9 Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.28. 0146c05), Thiền thứ hai có 4 chi, gồm: nội tịnh (內淨), hỷ (喜), lạc (樂) và định (定).
10 Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.28. 0146c15), Thiền thứ ba có 5 chi, gồm: (i) Hành xả (行捨), (ii) Chánh niệm (正念), (iii) Chánh tuệ (正慧), (iv) Lạc thọ (受樂), (v) Định (等持).
11 Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.28. 0146c18), Thiền thứ tư có 4 chi: (i) Hành xả thanh tịnh (行捨清淨), (ii) Niệm thanh tịnh (念清淨), (iii) Thọ không khổ không lạc (非苦樂受), (iv) Định (等持).
12 Tâm giải thoát (心解脫), tuệ giải thoát (慧解脫). Theo Tạp. 雜 (T.02. 0099.710. 0190b17) và Tạp.雜 (T.02. 0099.1027. 0268b20), lìa tham dục được “tâm giải thoát” và lìa vô minh được “tuệ giải thoát” (離貪欲者心解脫, 離無明者慧解脫). A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.3. 0376a02) giải thích: “Tâm giải thoát” là tâm tương ưng với “vô tham thiện căn”, đã thắng giải, đang thắng giải và sẽ thắng giải, gọi là “tâm giải thoát.” “Tuệ giải thoát” là tâm tương ưng với “vô si thiện căn”, đã thắng giải, đang thắng giải và sẽ thắng giải, gọi là “tuệ giải thoát” (心解脫者,謂無貪善根相應心,已勝解,當勝解,今勝解,是名心解脫;慧解脫者,謂無癡善根相應心,已勝解,當勝解,今勝解,是名慧解脫).
13 Nguyên tác: Lậu tận A-la-ha Tỳ-kheo (漏盡阿羅訶比丘).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.