Tam tạng Thánh điển PGVN 05 » Kinh Tam tạng Thượng tọa bộ 05»
Kinh Tiểu Bộ Quyển 1
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU dịch
NGUYÊN TÂM - TRẦN PHƯƠNG LAN
Phật giáo nguyên thủy/ Kinh tạng Pali/ Kinh Tiểu Bộ Quyển 1/ TRƯỞNG LÃO NI KỆ/ CHƯƠNG XVI. ĐẠI TẬP (MAHĀNIPĀTA)
§73. KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI SUMEDHĀ (Sumedhātherīgāthā)1 (Thīg. 167; ThīgA. 272)
Trong thời đức Phật hiện tại, cô được sanh ở thành Mantāvatī, con gái của Vua Koñca và được đặt tên là Sumedhā. Khi đến tuổi trưởng thành, cha mẹ cô bằng lòng để Anikadatta, vua xứ Vāraṇavatī xem mắt cô. Nhưng từ lúc nhỏ, trong một thời gian dài, cô thường đi cùng với các công chúa trang lứa và những người hầu đến tinh xá nghe các Tỷ-kheo-ni thuyết pháp, vì chí nguyện từ lúc còn nhỏ nên cô sợ hãi sự sanh tử luân hồi, tâm tư thiên về đời sống xuất gia, không ưa thích các dục lạc. Khi nghe quyết định của cha mẹ và bà con, cô nói: “Bổn phận của con không phải ở trong đời sống gia đình, con sẽ xin xuất gia” và cha mẹ, bà con không thể khuyên cô từ bỏ quyết định của cô. Cô suy nghĩ: “Như vậy, ta sẽ được phép xuất gia” và cương quyết theo chí nguyện của mình, cô cắt tóc và dùng tóc làm đề mục quán chiếu như phương pháp thiền quán của các Tỷ-kheo-ni thường thực tập. Cô chú tâm vào tánh bất tịnh của sắc đẹp thân xác và chứng được Sơ thiền. Khi cô ở trong định Sơ thiền, cha mẹ và bà con đến phòng để nói chuyện gả chồng, nhưng cô khiến cho mọi người, kể cả người hầu cận của vua đến để rước cô về cũng tin vào đạo pháp. Rồi cô từ bỏ gia đình, đi đến tinh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia. Sau khi tu tập thiền quán chín muồi, cô chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ và nghĩa tín thọ. Quán chiếu đến thành quả của mình, cô nói lên sự phấn khởi, hoan hỷ:
450.
Con gái Vua Koñca,
Với hoàng hậu chánh ngôi,
Tại Mantāvatī,
Ðược sanh Sumedhā,
Hân hoan gắng thực hành,
Lời dạy bậc Ðạo sư.
451.
Giới hạnh thuyết giảng khéo,
Nghe nhiều, khéo huấn luyện,
Theo lời đức Phật dạy,
Cô đến cha mẹ cô, Nói rằng:
“Thưa mẹ cha, Cả hai, hãy nghe con!
452.
Con hân hoan Niết-bàn,
Dầu sanh hữu chư thiên,
Sanh hữu ấy vô thường,
Giá trị gì các dục,
Trống không, vị ngọt ít,
Còn tàn hại thời nhiều.
453.
Các dục thật cay đắng,
Ví như nọc rắn độc,
Kẻ ngu mới tham đắm,
Trong các loại dục ấy.
Những ai thọ hưởng dục,
Trong một thời gian dài,
Bị khổ đau địa ngục,
Hành hạ và tàn hại.
454.
Những kẻ làm nghiệp ác,
Những kẻ tâm trí ác,
Bị đau đớn sầu khổ,
Trong cảnh giới đọa xứ.
Kẻ ngu thường không nhiếp,
Chế ngự thân, khẩu, ý.
455.
Kẻ ngu có liệt tuệ,
Không tư duy quyết định,
Không ngăn chặn khổ tập,
Khi có thời thuyết pháp,
Không biết lo học hỏi,
Không giác tri Thánh đế.
456.
Những sự thật, thưa mẹ,
Phật thù thắng thuyết giảng,
Phần lớn chúng quần sanh,
Không hiểu sự thật ấy,
Họ hoan hỷ tái sanh,
Ước muốn sanh thiên giới.
457.
Sanh thiên không thường trú,
Sanh hữu là vô thường,
Kẻ ngu không sợ hãi,
Luôn luôn phải tái sanh.
458.
Bị sanh bốn đọa xứ,
Ðược sanh thiên, nhân giới,
Ðược chúng khó khăn thay,
Những ai rơi đọa xứ,
Trong cảnh giới địa ngục,
Không có sự xuất gia.
459.
Mong cả hai cha mẹ,
Cho con được xuất gia,
Trong giáo pháp thuyết giảng,
Của bậc chứng Mười lực,
Sống thong dong nhàn hạ,
Nỗ lực đoạn sanh tử.
460.
Sao con ưa tái sanh,
Với thân tội lỗi này,
Thân trống rỗng, không lõi,
Vì mục đích đoạn diệt,
Tham ái được tái sanh,
Xin cho con xuất gia.
461.
Nay thời Phật ra đời,
Phi thời đã từ bỏ,
Thời cơ nay đã đến,
Cho đến trọn đời con,
Con không làm tổn thương,
Giới luật và Phạm hạnh.”
462.
Sumedhā nói vậy,
Cô lại thưa mẹ cha:
“Con nguyện không ăn uống,
Khi còn là cư sĩ,
Ở đây con sẵn sàng,
Chờ chết đến với con.”
463.
Mẹ sầu khổ khóc than,
Cha hoàn toàn sửng sốt,
Họ gắng thuyết phục ta,
Nằm dưới đất lâu dài.
464.
“Này, con hãy đứng dậy!
Có gì là sầu khổ,
Khi con được cả nước,
Vāraṇavatī, Anikadatta,
Ðẹp trai, xứng đôi con.
465.
Con sẽ là hoàng hậu,
Vợ chính Anika!
Này con, thật khó thay!
Ðời sống vị xuất gia,
Giữ gìn các giới luật,
Sống đời sống Phạm hạnh.
466.
Uy lực của vị vua,
Tiền của và quyền thế,
Sản nghiệp và hạnh phúc,
Với tuổi trẻ thanh xuân,
Hãy thọ hưởng dục lạc,
Hãy nhận lời lấy chồng!”
467.
Sumedhā thưa rằng:
“Thôi đừng sự việc ấy,
Họ đi đến tái sanh,
Họ trống không, không lõi,
Hoặc xuất gia hoặc chết,
Con chỉ cưới như vậy.
468.
Sá gì thân hôi nhớp,
Phát mùi gây sợ hãi,
Bao da đựng xác chết,
Rỉ chảy đồ bất tịnh.
469.
Sá gì thân ta biết,
Ghê tởm, lấm máu thịt,
Chỗ chứa đựng loài giòi,
Mồi ăn cho chim chóc,
Thân xác này là vậy,
Nay đem đến cho ai?
470.
Thân thể bỏ nghĩa địa,
Không lâu mất thức tri,
Như khúc gỗ quăng bỏ,
Bà con đều ghê tởm.
471.
Thân ấy quăng nghĩa địa,
Làm mồi ăn kẻ khác,
Trước chúng tắm rửa sạch,
Nay chúng sanh ghê tởm,
Cha mẹ còn như vậy,
Nói gì đến quần chúng.
472.
Họ mê thân không lõi,
Ràng buộc bởi gân xương,
Ðầy nước miếng, nước mắt,
Ðầy phân tiểu hôi hám.
473.
Nếu thân được mổ xẻ,
Lột nội phần ra ngoài,
Chính mẹ phải ghê tởm,
Không chịu nổi mùi hôi.
474.
Chính do uẩn, xứ, giới,
Tác thành các thân này,
Gốc tái sanh, đau khổ,
Chúng như lý nói lên,
Hoàn toàn không vui thích.
Vậy ai, con muốn cưới?
475.
Từng ngày trăm ngọn giáo,
Luôn luôn đâm vào thân,
Dầu bị hại trăm năm,
Như vậy còn tốt hơn,
Vì khổ ấy cuối cùng,
Rồi cũng được tiêu diệt.
476.
Người trí quyết bằng lòng,
Sự giết hại như trên,
Bậc Ðạo sư dạy rằng:
‘Họ luân hồi dài dài,
Với tâm tư giết hại,
Liên tục nối tiếp nhau.
477.
Trong cảnh giới trời, người,
Bàng sanh, a-tu-la,
Ngạ quỷ và địa ngục,
Chịu giết hại vô lượng.
478.
Trong địa ngục rất nhiều,
Kẻ tâm uế đọa lạc,
Chỗ trú ẩn thiên giới,
Không có lạc Niết-bàn.’
479.
Những ai đạt Niết-bàn,
Họ liên hệ mật thiết,
Với những lời thuyết dạy,
Của bậc Đủ Mười Lực,
Thong dong, không rộn ràng,
Nỗ lực đoạn sanh tử.
480.
Thưa cha ngày hôm nay,
Con quyết tâm ra đi,
Những tài sản rỗng không,
Không có giá trị gì,
Con ghê tởm các dục,
Con chán ngấy các dục,
Chúng đã được tác thành,
Như thân cây tāla.”
481.
Cô trả lời phụ thân,
Với lời nói như vậy.
Anikaratta,
Ðược hứa gả công chúa,
Ði đến gần xin cưới,
Theo như giờ hẹn định.
482.
Mái tóc đen, dày mịn,
Với gươm, cô cắt ngang,
Cửa lầu được đóng lại,
Cô chứng được sơ thiền.
483.
Cô sống trong cảnh thiền,
Anika đến thành,
Sumedhā trong cung,
Tu tập tưởng vô thường.
484.
Trong khi cô tác ý,
Vua bước lên tam cấp,
Trang sức vàng châu báu,
Chắp tay cầu xin cô.
485.
Hãy trị vì quốc độ,
Với tiền của, uy quyền,
Với tài sản, hạnh phúc,
Với tuổi trẻ thanh xuân,
Hãy thọ hưởng các dục,
Thật khó kiếm ở đời.
486.
Ta giao nàng vương quốc,
Hưởng tài sản, bố thí,
Nàng chớ có buồn nản,
Khiến mẹ cha khổ đau.
487.
Sumedhā trả lời,
Với vua từng vấn đề,
Ðối với cô, các dục,
Không cầu, không si mê,
Chớ hoan hỷ các dục,
Hãy thấy dục nguy hiểm.
488.
Mandhātā là vua,
Chúa bốn châu hưởng dục,
Dục lạc ấy tối thượng,
Tuy vậy, khi vua chết,
Cũng chưa được thỏa mãn,
Ước vọng chưa đầy đủ.
489.
Dầu có mười bảy báu,
Khắp mười phương đầy tràn,
Không có dục thỏa mãn,
Người chết chưa thỏa mãn.
490.
Các dục ví gươm giáo,
Các dục ví đầu rắn,
Ví như bó đuốc cháy,
Giống xương gặm trơn tru.
491.
Các dục không thường còn,
Cũng không có thường hằng,
Khổ nhiều, thuốc độc lớn,
Như hòn đạn cháy đỏ,
Nguồn gốc của bất hạnh,
Kết quả là đau khổ.
492.
Dục như trái của cây,
Như miếng thịt, khổ lụy,
Giống như mộng như huyễn,
Dục như của vay mượn.
493.
Dục như gươm, như cọc,
Bệnh tật và cục bướu,
Bất hạnh và dao động,
Ví như hố than hừng,
Nguồn gốc của bất hạnh,
Sợ hãi và tàn sát.
494.
Như vậy dục nhiều khổ,
Ðược gọi chướng ngại pháp,
Hãy đi, từ bỏ tôi,
Khi tôi còn tái sanh,
Thời đối với tự ngã,
Tôi không có lòng tin.
495.
Ai giúp gì tôi được,
Khi đầu tôi đang cháy,
Khi già, chết bám sát,
Tôi cần phải nỗ lực,
Ðối với tàn hại ấy!
496.
Không đi đến gần cửa,
Cô thấy mẹ và cha,
Và Vua Anika,
Ngồi dưới đất khóc than,
Thấy vậy cô tỏ lời,
Thưa mọi người như sau:
497.
“Kẻ ngu đã lâu rồi,
Khóc luân hồi nối tiếp,
Từ vô thỉ đến nay,
Khóc phải bị mạng chung,
Khóc anh em bị giết,
Khóc tự mình bị giết.
498.
Hãy nhớ từ vô thỉ,
Nước mắt, sữa và máu,
Tuôn chảy theo luân hồi,
Không bao giờ dừng nghỉ,
Hãy nhớ các chúng sanh,
Luân hồi xương chất đống.
499.
Hãy nhớ tràn bốn biển
, Ðầy nước mắt, sữa, máu,
Hãy nhớ xương một kiếp,
Cao bằng Vipula.
500.
Hãy nhớ từ vô thỉ,
Cả đất nước Diêm-phù,
Không đủ để làm thành,
Những nấm mồ hột táo,
Của người mẹ luân hồi.
501.
Hãy nhớ từ vô thỉ,
Những cỏ cây cành lá,
Không đủ để làm thành,
Những ghè bốn ngón tay,
Chứa người cha luân hồi.
502
. Hãy nhớ tới hình ảnh,
Con rùa mù biển Đông,
Cho đầu nó lọt vào,
Lỗ hổng khúc cây trôi,
Ðể nói lên ví dụ,
Ðược làm người khó vậy.
503.
Hãy nhớ thân sắc người,
Ðược ví bong bóng nước,
Ðầy cả những bất hạnh,
Trống không, không có lõi,
Hãy thấy uẩn vô thường!
Nhớ địa ngục nhiều họa.
504.
Hãy nhớ nghĩa địa lớn,
Do tái sanh tiếp tục,
Nhớ sợ hãi thuồng luồng,
Hãy nhớ bốn sự thật.
505.
Nước bất tử có đây,
Sao người uống trăm đắng,
Tất cả các dục lạc,
Thật trăm cay ngàn đắng.
506.
Nước bất tử có đây,
Sao người ưa dục não,
Mọi dục lạc đốt cháy,
Sôi sùng sục nung nấu.
507.
Ðây không có kẻ thù,
Sao thích dục thù địch!
Vua, lửa, trộm, nước, oán,
Thù chung thật là nhiều.
508.
Ở đây có giải thoát,
Sao để dục giết trói!
Trong dục có giết trói,
Mê dục nhiều khổ đau.
509.
Ðuốc cỏ đang cháy rực,
Nắm không thả, bị đốt,
Dục ví như bó đuốc,
Ðốt cháy ai không thoát.
510.
Chớ nhận dục lạc nhỏ,
Bỏ lạc lớn rộng rãi,
Chớ như cá nuốt câu,
Sau phải chịu hoạn nạn.
511.
Hãy nhiếp phục trong dục,
Như chó bị dây cột,
Chớ để dục ăn ngươi,
Như dân đói ăn chó.
512.
Khổ thật là vô lượng,
Khiến tâm nhiều ưu tư,
Người hệ lụy với dục,
Hãy bỏ dục vô thường!
513.
Ở đây, không có già,
Sao theo dục bị già!
Mọi sanh ở khắp nơi,
Bị bệnh chết chi phối.
514.
Ðây không già,không chết,
Ðây con đường không già,
Không chết, không sầu não,
Không thù địch trói buộc,
Không vấp ngã sợ hãi,
Không nung nấu đọa đày.
515.
Ðích này nhiều người đạt,
Ðích này là bất tử,
Nay cần phải chứng được,
Ai như lý chú tâm,
Nếu không có nỗ lực,
Không sao chứng đạt được.”
516.
Sumedhā nói vậy,
Không thích đi đến thành,
Cô thuyết phục được vua,
Với tóc quăng trên đất.
517.
Ðứng dậy Anika,
Chắp tay xin cha cô,
Hãy cho Sumedhā,
Ðược xuất gia tu học,
Ðể cho cô thấy được,
Giải thoát và chân lý.
518.
Mẹ cha cho xuất gia,
Thoát sầu, sợ, khiếp đảm,
Sáu thắng trí chứng đạt,
Chứng luôn quả tối thượng,
Dầu còn là Học nữ.
519.
Thật vi diệu, hy hữu!
Một công chúa con vua,
Lại đạt được Niết-bàn!
Cô nói lên như sau:
“Thời trước đời cuối cùng.
520.
Trong thời đức Thế Tôn,
Koṇāgamana!
Trong trú xứ mới làm,
Tại cảnh Tăng già-lam,
Với bạn là ba người,
Chúng tôi cúng tinh xá.
521.
Mười lần, một trăm lần,
Mười trăm, trăm trăm lần,
Chúng tôi sanh chư thiên,
Còn nói gì làm người.
522.
Giữa chư thiên, chúng tôi,
Có được thần lực lớn,
Còn nói gì chúng tôi,
Khi được làm thân người,
Ta hoàng hậu, bảy báu!
Ta chính là nữ báu.
523.
Ðây là nhân, là nguồn,
Ðây chính là căn gốc,
Kham nhẫn lời Ðạo sư,
Ðây dây chuyền thứ nhất,
Ðấy chính là Niết-bàn,
Nếu chúng ta mến pháp.”2
524.
Như vậy với lòng tin,
Họ thuyết rõ nên lời,
Lời nói đầy trí tuệ,
Thù thắng và tối thượng,
Họ chán ghét tái sanh,
Do chán ghét, tham diệt.
Tham khảo:
1 Xem Ap. II. 512, Sumedhātherīapadāna (Ký sự về Trưởng lão Ni Sumedhā).
2 Kệ 520-3, xem Ap. II. 512, Sumedhātherīapadānaṃ (Ký sự về Sumedhā).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.