Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »
Vị xét xử nên hỏi vị cáo tội rằng: “Này Đại đức, việc ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này, ngài đình chỉ vị ấy vì lý do gì, đình chỉ vì hư hỏng về giới, đình chỉ vì hư hỏng về hạnh kiểm, đình chỉ vì hư hỏng về quan điểm?”
Nếu vị ấy nói như vầy: “Hoặc là tôi đình chỉ vì hư hỏng về giới, hoặc là đình chỉ vì hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc là đình chỉ vì hư hỏng về quan điểm.”
Vị ấy nên được nói như sau: “Vậy ngài có biết sự hư hỏng về giới không, có biết sự hư hỏng về hạnh kiểm không, có biết sự hư hỏng về quan điểm không?”
Nếu vị ấy nói như vầy: “Này Đại đức, tôi biết sự hư hỏng về giới, tôi biết sự hư hỏng về hạnh kiểm, tôi biết sự hư hỏng về quan điểm.”
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Này Đại đức, vậy điều gì là sự hư hỏng về giới, điều gì là sự hư hỏng về hạnh kiểm, điều gì là sự hư hỏng về quan điểm?’
Nếu vị ấy nói như vầy: “Bốn tội Pārājika, mười ba tội Saṅghādisesa, đó là sự hư hỏng về giới. Tội Thullaccaya, tội Pācittiya, tội Pāṭidesanīya, tội Dukkaṭa, tội Dubbhāsita, đó là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Tà kiến, hữu biên kiến, đó là sự hư hỏng về quan điểm.”
Vị ấy nên được nói như sau: “Này Đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này, có phải ngài đình chỉ do đã được thấy, đình chỉ do đã được nghe, đình chỉ do sự nghi ngờ?”
Nếu vị ấy nói như vầy: “Hoặc là tôi đình chỉ do đã được thấy, hoặc là đình chỉ do đã được nghe, hoặc là đình chỉ do sự nghi ngờ.”
Vị ấy nên được nói như sau: “Này Đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này do đã được thấy, ngài đã thấy gì, ngài đã thấy thế nào, ngài đã thấy khi nào, ngài đã thấy ở đâu? Có phải đã thấy vị [ấy] đang phạm tội Pārājika?... tội Saṅghādisesa?... tội Thullaccaya?... tội Pācittiya?... tội Pāṭidesanīya?... tội Dukkaṭa? Có phải đã thấy vị [ấy] đang phạm tội Dubbhāsita? Và ngài đã ở đâu? Và vị Tỳ-khưu này đã ở đâu? Và ngài đã làm gì? Và vị Tỳ-khưu này đã làm gì?”
Nếu vị ấy nói như vầy: “Này Đại đức, tôi quả không đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này do đã được thấy, tuy nhiên tôi đình chỉ lễ Pavāraṇā do đã được nghe.”
Vị ấy nên được nói như sau: “Này Đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này do đã được nghe, ngài đã nghe gì, ngài đã nghe thế nào, ngài đã nghe khi nào, ngài đã nghe ở đâu? Có phải đã nghe rằng: ‘Vị [ấy] đã phạm tội Pārājika?’ Có phải đã nghe rằng: ‘Vị [ấy] đã phạm tội Saṅghādisesa?’... tội Thullaccaya?’... tội Pācittiya?’... tội Pāṭidesanīya?’... tội Dukkaṭa?’ Có phải đã nghe rằng: ‘Vị [ấy] đã phạm tội Dubbhāsita?’ Có phải đã nghe từ vị Tỳ-khưu, đã nghe từ vị Tỳ-khưu-ni, đã nghe từ cô Ni tu tập sự, đã nghe từ vị Sa-di, đã nghe từ vị Sa-di-ni, đã nghe từ nam cư sĩ, đã nghe từ nữ cư sĩ, đã nghe từ các đức vua, đã nghe từ các quan đại thần của đức vua, đã nghe từ các ngoại đạo, đã nghe từ các đệ tử của ngoại đạo?”
Nếu vị ấy nói như vầy: “Này Đại đức, tôi quả không đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này do đã được nghe, tuy nhiên tôi đình chỉ lễ Pavāraṇā do sự nghi ngờ.”
Vị ấy nên được nói như sau: “Này Đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị Tỳ-khưu này do sự nghi ngờ, ngài nghi ngờ gì, nghi ngờ như thế nào, nghi ngờ khi nào, nghi ngờ ở đâu? Có phải ngài nghi ngờ rằng: ‘Vị [ấy] đã phạm tội Pārājika?’... tội Saṅghādisesa?’... tội Thullaccaya?’... tội Pācittiya?’... tội Pāṭidesanīya?’... tội Dukkaṭa?’ Có phải ngài nghi ngờ rằng: ‘Vị [ấy] đã phạm tội Dubbhāsita?’ Có phải ngài nghi ngờ sau khi nghe từ vị Tỳ-khưu, nghi ngờ sau khi nghe từ vị Tỳ-khưu-ni, nghi ngờ sau khi nghe từ cô Ni tu tập sự, nghi ngờ sau khi nghe từ vị Sa-di, nghi ngờ sau khi nghe từ vị Sa-di-ni, nghi ngờ sau khi nghe từ nam cư sĩ, nghi ngờ sau khi nghe từ nữ cư sĩ, nghi ngờ sau khi nghe từ các đức vua, nghi ngờ sau khi nghe từ các quan đại thần của đức vua, nghi ngờ sau khi nghe từ các ngoại đạo, nghi ngờ sau khi nghe từ các đệ tử của ngoại đạo?”
1. Điều được thấy tương tợ với điều đã được thấy, điều được thấy phù hợp với điều đã được thấy, căn cứ vào điều đã được thấy mà không thừa nhận thì bị nghi ngờ là không thanh tịnh; vị ấy do sự thừa nhận thì nên hành lễ Pavāraṇā với vị ấy.
2. Điều được nghe tương tợ với điều đã được nghe, điều được nghe phù hợp với điều đã được nghe, căn cứ vào điều đã được nghe mà không thừa nhận thì bị nghi ngờ là không thanh tịnh; vị ấy do sự thừa nhận thì nên hành lễ Pavāraṇā với vị ấy.
3. Điều được cảm nhận tương tợ với điều đã được cảm nhận, điều được cảm nhận phù hợp với điều đã được cảm nhận, căn cứ vào điều đã được cảm nhận mà không thừa nhận thì bị nghi ngờ là không thanh tịnh; vị ấy do sự thừa nhận thì nên hành lễ Pavāraṇā với vị ấy.
*****