Viện Nghiên Cứu Phật Học

Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »

HỢP PHẦN
(khandhaka)


 

2.2. CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA

 

1. Vị Tỳ-khưu-ni là người nói lời tranh chấp lúc tiến hành việc thưa kiện vi phạm ba tội: Nói với người thứ nhất thì phạm tội Dukkaṭa, nói với người thứ nhì thì phạm tội Thullaccaya; vào lúc kết thúc vụ xử án thì phạm tội Saṅghādisesa.

2. Vị Ni trong khi tiếp độ nữ đạo tặc vi phạm ba tội: Do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Saṅghādisesa.

3. Vị Ni một mình trong khi đi vào trong làng vi phạm ba tội: Vị Ni đi thì phạm tội Dukkaṭa; vượt qua hàng rào bước thứ nhất thì phạm tội Thullaccaya; vượt qua bước thứ nhì thì phạm tội Saṅghādisesa.

4. Vị Ni trong khi phục hồi cho vị Tỳ-khưu-ni đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư khi chưa xin phép hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến ước muốn của nhóm vi phạm ba tội: Do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Saṅghādisesa.

5. Vị Ni nhiễm dục vọng, sau khi tự tay thọ nhận vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay của người nam nhiễm dục vọng, trong khi thọ thực vi phạm ba tội: Vị Ni [nghĩ rằng]: “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận thì phạm tội Thullaccaya; mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội Saṅghādisesa; vị Ni thọ nhận nước và tăm xỉa răng thì phạm tội Dukkaṭa.

6. Vị Ni trong khi xúi giục rằng: “Này Ni sư, người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không nhiễm dục vọng thì sẽ làm gì Ni sư khi Ni sư không nhiễm dục vọng? Này Ni sư, người đàn ông ấy dâng vật thực cứng hoặc vật thực mềm nào đến Ni sư, Ni sư cứ tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi” vi phạm ba tội: Do lời nói của vị Ni ấy, vị Ni kia [nghĩ rằng]: “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận, [vị Ni xúi giục] thì phạm tội Dukkaṭa; mỗi lần [vị Ni kia] nuốt xuống, [vị Ni xúi giục] thì phạm tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt bữa ăn, [vị Ni xúi giục] thì phạm tội Saṅghādisesa.

7. Vị Tỳ-khưu-ni nổi giận trong khi không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm ba tội: Do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Saṅghādisesa.

8. Vị Tỳ-khưu-ni khi bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó trong khi không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm ba tội: Do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Saṅghādisesa.

9. Các Tỳ-khưu-ni thân cận [với thế tục] trong khi không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm ba tội: Do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Saṅghādisesa.

10. Vị Ni xúi giục rằng: “Này các Ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác”, trong khi không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm ba tội: Do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Saṅghādisesa.

Dứt các điều Saṅghādisesa.

*****