Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »

HỢP PHẦN
(khandhaka)


 

10. PHẦN BAO NHIÊU TỘI

 

10.1. CHƯƠNG PĀRĀJIKA

 

1. Do duyên của việc ưng thuận sự xúc chạm thân thể vi phạm bao nhiêu tội?

– Do duyên của việc ưng thuận sự xúc chạm thân thể vi phạm năm tội: Vị Tỳ-khưu-ni nhiễm dục vọng ưng thuận sự nắm lấy từ xương đòn [ở cổ] trở xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục vọng thì phạm tội Pārājika; vị Tỳ-khưu sờ vào thân [người nữ] bằng thân [vị ấy] thì phạm tội Saṅghādisesa; vị [Ni] dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân [người nam] phạm Thullaccaya; vị [Ni] dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân [người nam] thì phạm tội Dukkaṭa; khi thọt léc bằng ngón tay thì phạm tội Pācittiya.[7] Do duyên của việc ưng thuận sự xúc chạm thân thể vi phạm năm tội này.

2. Do duyên của việc che giấu lỗi lầm vi phạm bao nhiêu tội?

– Do duyên của việc che giấu lỗi lầm vi phạm bốn tội: Vị Tỳ-khưu-ni biết [vị Tỳ-khưu-ni khác] vi phạm tội Pārājika rồi che giấu thì phạm tội Pārājika; vị [Ni] có sự hoài nghi rồi che giấu thì phạm tội Thullaccaya; vị Tỳ-khưu che giấu tội Saṅghādisesa thì phạm tội Pācittiya;[8] vị [Ni] che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm thì phạm tội Dukkaṭa. Do duyên của việc che giấu lỗi lầm vi phạm bốn tội này.

3. Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm bao nhiêu tội?

– Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm năm tội: Vị Tỳ-khưu-ni là người xu hướng theo kẻ bị phạt án treo không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị thì phạm tội Dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự thì phạm các tội Thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội Pārājika; vị Tỳ-khưu-ni là người xu hướng theo kẻ chia rẽ [hội chúng] không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba thì phạm tội Saṅghādisesa; vị không chịu dứt bỏ tà kiến ác với sự nhắc nhở đến lần thứ ba thì phạm tội Pācittiya. Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm năm tội này.

4. Do duyên của việc làm đầy đủ sự việc thứ tám vi phạm bao nhiêu tội?

– Do duyên của việc làm đầy đủ sự việc thứ tám vi phạm ba tội: Khi được người nam nói rằng: “Hãy đi đến chỗ tên như vầy” vị Ni đi đến [nơi hẹn] thì phạm tội Dukkaṭa; khi đã vào ở trong tầm tay của người nam thì phạm tội Thullaccaya; vị Ni làm đầy đủ sự việc thứ tám thì phạm tội Pārājika. Do duyên của việc làm đầy đủ sự việc thứ tám vi phạm ba tội này.

Dứt các điều Pārājika.

*****

 

[7] Chương này được đề cập riêng cho Tỳ-khưu-ni: Tội thứ nhất là tội dành riêng cho Tỳ-khưu-ni, tội thứ ba và thứ tư có tính cách tương tợ giữa Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni dầu được quy định vào hai điều học khác nhau, tội thứ năm được đề cập ở Giới bổn (Pātimokkha) của Tỳ-khưu nhưng là điều học được quy định chung cho cả hai hội chúng, riêng tội thứ nhì được xếp vào đây xét ra có tính cách gượng ép vì chỉ dành riêng cho Tỳ-khưu (ND).

[8] Đúng ra phải ghi là “vị Tỳ-khưu-ni” thay vì “vị Tỳ-khưu” (ND).