Viện Nghiên Cứu Phật Học

Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »

HỢP PHẦN
(khandhaka)


 

NHÓM SÁU

 

1. Sáu sự không kính trọng. Sáu sự kính trọng. Sáu sự việc đã được rèn luyện. [a][1] Sáu sự thực hành đúng đắn. [b][2] Sáu nguồn sanh tội. Sáu tội vi phạm liên quan đến cắt bớt. [c][3] Vị vi phạm tội do sáu biểu hiện. [d][4] Sáu điều lợi ích cho vị nắm vững về Luật. [e][5] Sáu điều tối đa. [f][6] Có thể xa lìa [một trong] ba y sáu đêm. [g][7] Sáu loại y. [h][8] Sáu loại thuốc nhuộm [y]. [i][9] Sáu loại tội vi phạm sanh lên do thân và do ý không do khẩu. Sáu loại tội vi phạm sanh lên do khẩu và do ý không do thân. Sáu loại tội vi phạm sanh lên do thân do khẩu và do ý. Sáu loại hành sự. [j][10] Sáu nguyên nhân tranh cãi. [k][11] Sáu nguyên nhân khiển trách. [l][12] Sáu pháp cần ghi nhớ. Chiều dài sáu gang tay theo gang tay của đức Thiện Thệ. [m][13] Chiều rộng sáu gang tay. [n][14] Sáu trường hợp đình chỉ việc nương nhờ ở thầy dạy học. [o][15] Sáu điều quy định thêm trong việc tắm. [p][16] Vị ra đi sau khi cầm lấy y chưa làm xong. [q][17] Vị ra đi sau khi mang theo y chưa làm xong.

2. Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, là vị thành tựu vô học định uẩn, là vị thành tựu vô học tuệ uẩn, là vị thành tựu vô học giải thoát uẩn, là vị thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, là vị mười năm hoặc hơn mười năm.[18]

Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị tự mình thành tựu vô học giới uẩn và giúp cho vị khác đạt được vô học giới uẩn, là vị tự mình thành tựu vô học định uẩn và giúp cho vị khác đạt được vô học định uẩn, là vị tự mình thành tựu vô học tuệ uẩn và giúp cho vị khác đạt được vô học tuệ uẩn, là vị tự mình thành tựu vô học giải thoát uẩn và giúp cho vị khác đạt được vô học giải thoát uẩn, là vị tự mình thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và giúp cho vị khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, là vị mười năm hoặc hơn mười năm.

Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị có đức tin, là vị có sự hổ thẹn [tội lỗi], là vị có sự ghê sợ [tội lỗi], là vị có sự tinh tấn đã được phát khởi, là vị có niệm đã được thiết lập, là vị mười năm hoặc hơn mười năm.

Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về quan điểm ở quan điểm cực đoan, là vị nghe nhiều, là vị có trí tuệ, là vị mười năm hoặc hơn mười năm.

Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị có khả năng chăm sóc hoặc kiếm người chăm sóc cho đệ tử hoặc học trò bị bệnh, [có khả năng] khuyên giải hoặc nhờ người khuyên giải [khi đệ tử hay học trò] có sự không hoan hỷ, [có khả năng] giải tỏa hoặc nhờ vị khác giải tỏa đúng theo pháp [khi đệ tử hay học trò] có mối nghi ngờ sanh khởi, là vị biết về sự phạm tội, là vị biết cách thoát khỏi tội, là vị mười năm hoặc hơn mười năm.

Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, [có khả năng] để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, [có khả năng] để hướng dẫn về Thắng pháp, để hướng dẫn về Thắng luật, [có khả năng] để phân tách đúng theo pháp xu hướng tà kiến đã được sanh khởi cho đệ tử hay học trò, là vị mười năm hoặc hơn mười năm.

Vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để Sa-di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội; biết về sự không phạm tội; biết về tội nhẹ; biết về tội nặng; đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) khéo được truyền thừa với chi tiết, khéo được phân tích, khéo được ứng dụng, khéo xác định theo từng điều hoặc từng từ ngữ; là vị mười năm hoặc hơn mười năm.

3. Sáu sự đình chỉ Giới bổn (Pātimokkha) sai Pháp.

Sáu sự đình chỉ Giới bổn (Pātimokkha) đúng Pháp.[19]

Dứt “Nhóm sáu.”

--ooOoo--

 

[1] [a] Ba nhóm sáu này đã được trình bày chi tiết ở Parivāra (Tập yếu), tr. 1166 trong tập này; TTPV, tập 8, tr. 317.

[2] [b] Sáu sự thực hành đúng đắn: Ngài Buddhaghosa đề cập đến sáu điều học có câu “ayaṃ tattha sāmīci” với ý nghĩa là “đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy”, tức là nói đến các điều học Saṅghādisesa 13; Nissaggiya Pācittiya 10, 22; Pācittiya 34, 71, 84 (VinA. VII. 1339).

[3] [c] Gồm năm điều học Pācittiya của Tỳ-khưu đã được trình bày ở phần Nhóm năm liên quan đến việc cắt bớt vật làm quá kích thước là chân giường, tọa cụ, y đắp ghẻ, y tắm mưa, y có kích thước y của đức Thiện Thệ, thêm vào điều học Pācittiya của Tỳ-khưu-ni về việc may y choàng tắm quá kích thước là sáu (Sđd.).

[4] [d] Sáu biểu hiện là vô liêm sỉ, không có trí tuệ, bản chất xấu xa, lầm tưởng là được phép trong điều không được phép, lầm tưởng là không được phép trong điều được phép, lầm lẫn về sự ghi nhớ (Sđd. 1339-40).

[5] [e] Sáu điều lợi ích cho vị rành rẽ về Luật: Gồm năm điều đã được giải thích trước đây ở trang 1248 thêm vào điều thứ sáu là “Lễ Uposatha là phần trách nhiệm của vị ấy” (Sđd. 1340).

[6] [f] Sáu điều tối đa: Ngài Buddhaghosa nói về các điều học có từ “paramaṃ” (tối đa) như là dasāhaparamaṃ, māsaparamaṃ, santaruttaraparamaṃ, v.v... và nêu rõ trong hai bộ Giới bổn có tất cả là 14 giới. Sáu giới đầu lập thành một nhóm sáu, sáu giới kế tiếp là nhóm sáu thứ nhì, còn hai điều học thì sau khi bớt đi một điều học của mỗi một nhóm rồi thêm vào một điều học để lập thành hai nhóm sáu khác nữa (Sđd.).

[7] [g] Có thể xa lìa [một trong] ba y sáu đêm: Câu này được trích dẫn từ điều Nissaggiya Pācittiya 29 về vị Tỳ-khưu có thể để y ở trong làng tối đa là sáu đêm khi ngụ ở trong khu rừng được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng (ND).

[8] [h] Sáu loại y được đức Phật cho phép: Loại bằng sợi lanh, loại bằng bông vải, loại bằng tơ lụa, loại bằng sợi len, loại bằng gai thô, loại bằng chỉ bố. Xem tr. 364 trong tập này; TTPV, tập 5, Mv. II, chương VIII, tr. 181.

[9] [i] Sáu loại thuốc nhuộm được đức Phật cho phép: Thuốc nhuộm làm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ bông hoa, thuốc nhuộm từ trái cây (Sđd. 189).

[10] [j] Sáu loại hành sự: Gồm có hành sự khiển trách, hành sự chỉ dạy, hành sự xua đuổi, hành sự hòa giải, thứ năm là hành sự án treo vì không nhìn nhận tội và hành sự án treo trong việc không sửa chữa lỗi được gom thành một và thứ sáu là hành sự án treo vì không chịu từ bỏ tà kiến ác (VinA. VII. 1340).

[11] [k] Sáu nguyên nhân tranh cãi: Đã được trình bày chi tiết ở Parivāra (Tập yếu), tr. 1166 trong tập này; TTPV, tập 8, tr. 319.

[12] [l] Sáu nguyên nhân khiển trách: Đã được trình bày chi tiết ở Parivāra (Tập yếu), tr. 1167 trong tập này; TTPV, tập 8, tr. 321.

[13] [m] Chiều dài sáu gang tay theo gang tay của đức Thiện Thệ: Đã được trích dẫn từ điều học Pācittiya 91 về chiều dài y tắm mưa của các Tỳ-khưu (ND).

[14] [n] Chiều rộng sáu gang tay: Đã được trích dẫn từ điều học Pācittiya 92 về chiều rộng của y đức Thiện Thệ (ND).

[15] [o] Sáu trường hợp đình chỉ nương nhờ ở thầy dạy học. Xem tr. 80 trong tập này; TTPV, tập 4, Mv. I, chương I, tr. 157.

[16] [p] Sáu điều quy định thêm trong việc tắm được ghi lại ở điều học Pācittiya 57 của Tỳ-khưu: “‘Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy là hai tháng rưỡi là lúc trời nóng nực, là lúc trời oi bức, trường hợp bị bệnh, trường hợp có công việc, trường hợp đi đường xa, trường hợp mưa gió” (VinA. VII. 1340).

[17] [q] Sáu trường hợp cầm lấy và sáu trường hợp mang theo. Hai nhóm sáu này được đề cập chi tiết ở tr. 329-30 trong tập này; TTPV, tập 5, Mv. II, chương VII, tr. 119-21.

[18] Các nhóm sáu thuộc mục 2 này được đề cập ở tr. 84-7 trong tập này; TTPV, tập 4, Mv. I, chương I, tr. 165-71.

[19] Hai nhóm sáu này được đề cập ở tr. 218-29 trong tập này; TTPV, tập 7, Cv. II, chương IX, tr. 439-41.