Viện Nghiên Cứu Phật Học

Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »

HỢP PHẦN
(khandhaka)


 

NHÓM MƯỜI MỘT

 

1. Mười một hạng người chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên thì nên trục xuất. [a][1] Mười một loại giày không được phép. [b][2] Mười một loại bình bát không được phép. [c][3] Mười một loại y không được phép. [d][4] Mười một tội vi phạm [khi được nhắc nhở] cho đến lần thứ ba. [e][5] Mười một pháp chướng ngại của Tỳ-khưu-ni cần được hỏi. [f][6] Mười một loại y được chú nguyện để dùng riêng. [g][7] Mười một loại y không được chú nguyện để dùng chung. [h][8] Khi rạng đông của ngày thứ mười một thì phạm vào Nissaggiya. Mười một loại khóa thắt lưng được phép. Mười một loại hột nút được phép. [i][9] Mười một loại đất không được phép. Mười một loại đất được phép. [j][10] Mười một trường hợp đình chỉ việc nương nhờ. [k][11] Mười một hạng người không nên đảnh lễ. [l][12] Mười một điều tối đa. Họ đã yêu cầu mười một điều ước muốn. [m][13] Mười một sự sai trái của ranh giới. [n][14] Mười một tai họa là điều hiển nhiên cho người mắng nhiếc và người gièm pha.

2. Khi tâm từ là sự giải thoát của ý được tập luyện, được phát triển, được thực hành đều đặn, được làm thành phương tiện, được làm thành nền tảng, được duy trì, được tích lũy, khéo được thành tựu viên mãn, mười một điều lợi ích là điều hiển nhiên: Ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không nhìn thấy ác mộng, được mọi người thương mến, được các phi nhân thương mến, chư thiên hộ trì, lửa hoặc chất độc hoặc vũ khí không xâm phạm vị ấy, tâm được nhập định nhanh chóng, sắc mặt được an tịnh, không mê mờ khi từ trần, trong khi không thể nhập được trạng thái cao thượng [phẩm vị A-la-hán] thì đi đến thế giới Phạm thiên; khi tâm từ là sự giải thoát của ý được tập luyện, được phát triển, được thực hành đều đặn, được làm thành phương tiện, được làm thành nền tảng, được duy trì, được tích lũy, khéo được thành tựu viên mãn, mười một điều lợi ích này là điều hiển nhiên.

Dứt “Nhóm mười một.”

*****

TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:

1. Các hạng nên trục xuất, các loại giày, các bình bát, các y, lần thứ ba, các điều nên hỏi, các sự chú nguyện dùng riêng và dùng chung.

2. Lúc rạng đông, các khóa thắt lưng, các hột nút, các điều không được phép và được phép, việc nương nhờ, luôn cả các hạng không nên đảnh lễ, các điều tối đa, các điều ước muốn, các sự sai trái của ranh giới, các sự mắng nhiếc, với tâm từ là nhóm mười một đã được hoàn tất.

Dứt “Tăng theo từng bậc.”

*****

TÓM LƯỢC CÁC CHƯƠNG NÀY:

1. Nhóm một, nhóm hai, luôn cả nhóm ba, bốn và nhóm năm, sáu, bảy, tám, nhóm chín, mười và nhóm mười một.

2. Vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, các điều tăng theo từng bậc không ô nhiễm đã được thuyết giảng bởi đấng Đại Hùng, bậc Hiểu Pháp như thế ấy.

--ooOoo--

 

[1] [a] Mười một hạng người trên: Kẻ vô căn, kẻ trộm tướng mạo [Tỳ-khưu], kẻ bỏ theo ngoại đạo, loài thú, kẻ giết mẹ, kẻ giết cha, kẻ giết A-la-hán, kẻ làm nhơ Tỳ-khưu-ni, kẻ chia rẽ hội chúng, kẻ làm [đức Phật] chảy máu, kẻ lưỡng căn. Xem tr. 105-10 trong tập này; TTPV, tập 4, Mv. I, chương I, tr. 213-21.

[2] [b] Mười một loại giày không được phép: Là mười loại giày làm bằng vật quý giá: Làm bằng vàng, bằng bạc, bằng ngọc ma-ni, bằng đá quý, bằng pha lê, bằng đồng đỏ, bằng thủy tinh, bằng thiếc, bằng chì, bằng đồng thau và loại giày làm bằng gỗ là mười một (VinA. VII. 1344).

[3] [c] Mười một loại bình bát không được phép: Là loại bình bát bằng đồng đỏ hay bằng gỗ và mười loại bình bát làm bằng vật quý giá (Sđd.).

[4] [d] Mười một loại y không được phép: Y toàn màu xanh, y toàn màu vàng, y toàn màu đỏ [máu], y toàn màu tím, y toàn màu đen, y toàn màu đỏ tía, y toàn màu hồng, y không cắt đường viền, y có đường viền rộng, y có đường viền vẽ bông hoa, y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang. Xem tr. 391 trong tập này; TTPV, tập 5, Mv. II, chương VIII, tr. 225.

[5] [e] Mười một tội vi phạm [khi được nhắc nhở] cho đến lần thứ ba: Là tội Pārājika 3 của Tỳ-khưu-ni, 8 tội Saṅghādisesa, tội Pācittiya 68 về Tỳ-khưu Ariṭṭha và tội Pācittiya 36 của Tỳ-khưu-ni Caṇḍakāḷī (VinA. VII. 1344).

[6] [f] Mười một pháp chướng ngại của Tỳ-khưu-ni cần được hỏi: “Cô không phải là người không có hiện tướng [người nữ]? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng [người nữ]? Cô không phải là người không có kinh nguyệt? Cô không phải là người bị băng huyết? Cô không phải là người thường xuyên mang vải lót? Cô không phải là người bị rong kinh? Cô không phải là người bị dị căn? Cô không phải là người nữ vô căn? Cô không phải là người lại đực? Cô không phải là người tiêu tiểu chung một khiếu? Cô không phải là người nữ lưỡng căn?” Xem tr. 922 trong tập này; TTPV, tập 7, Cv. II, chương X, tr. 513.

[7] [g] Mười một loại y được chú nguyện để dùng riêng: Ba y, y tắm mưa, tọa cụ, ngọa cụ, y đắp ghẻ, khăn lau mặt, y phụ thuộc, vải choàng tắm và áo lót của Tỳ-khưu-ni (VinA. VII. 1345).

[8] [h] Mười một loại y không được chú nguyện để dùng chung: Do đã được chú nguyện để dùng riêng trong thời kỳ thích hợp thì không nên chú nguyện để dùng chung (Sđd.).

[9] [i] Mười một loại hột nút được phép: Là các hột nút được làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò, làm bằng chỉ sợi. Xem tr. 745 trong tập này; TTPV, tập 7, Cv. II, chương V, tr. 95.

[10] [j] Mười một loại đất không được phép và mười một loại đất được phép: Ngài Buddhaghosa giải thích là được đề cập ở điều học Pācittiya 10 (VinA. VII. 1345); tuy nhiên ở đây chỉ có hai loại đất được nêu ra là đất màu mỡ và đất không màu mỡ.

[11] [k] Mười một trường hợp đình chỉ việc nương nhờ: Là năm đối với thầy tế độ, sáu đối với thầy dạy học  (Sđd.).

[12] [l] Mười một hạng người không nên đảnh lễ: Thêm vị lõa thể là mười một. Mười hạng đã được trình bày ở nhóm mười (Sđd.).

[13] [m] Họ đã yêu cầu mười một điều ước muốn: Ngài Buddhaghosa giảng rằng điều ước muốn thứ mười một là của bà Mahāpajāpati Gotamī yêu cầu việc các Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, [và] hành động thích hợp tính theo thâm niên (xem tr. 907 trong tập này; TTPV, tập 7, Cv. II, chương X, tr. 479); nhưng điều này đã bị đức Phật từ chối (VinA. VII. 1345).

[14] [n] Mười một sự sai trái của ranh giới: Được trình bày không liên tục ở phần thực hiện ranh giới bắt đầu với việc ấn định ranh giới quá nhỏ, v.v... Xem tr. 131 trong tập này; TTPV, tập 4, Mv. I, chương II, tr. 263.