Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »
1. Mười sự việc gây nóng giận. Mười cách đối trị sự nóng giận. Mười sự việc đã được rèn luyện. Mười tà kiến căn bản. [o][1] Mười chánh kiến căn bản. [p][2] Mười hữu biên kiến. [q][3] Mười sự sai trái. [r][4] Mười sự chân chánh. Mười đường lối của nghiệp bất thiện. [s][5] Mười đường lối của nghiệp thiện. Mười cách phân phát thẻ sai Pháp. Mười cách phân phát thẻ đúng Pháp. [t][6] Mười điều học của các Sa-di. [u][7] Vị Sa-di có mười yếu tố nên bị trục xuất. [v][8]
2. Vị nắm vững về Luật bị xem là “ngu dốt” khi có mười điều: Vị không đưa ra sự giới hạn cho lời nói của mình, không đưa ra sự giới hạn cho lời nói của người khác, sau khi không đưa ra sự giới hạn cho lời nói của mình, sau khi không đưa ra sự giới hạn cho lời nói của người khác rồi cho thực hiện [hành sự] sai Pháp, với sự không khẳng định, không biết về tội, không biết về nền tảng của tội, không biết về nhân sanh tội, không biết về sự đoạn diệt của tội, không biết về sự thực hành đưa đến sự đoạn diệt của tội.
Vị nắm vững về Luật được xem là “thông thái” khi có mười điều: Vị đưa ra sự giới hạn cho lời nói của mình, đưa ra sự giới hạn cho lời nói của người khác, sau khi đưa ra sự giới hạn cho lời nói của mình, sau khi đưa ra sự giới hạn cho lời nói của người khác rồi cho thực hiện [hành sự] đúng Pháp, với sự khẳng định, biết về tội, biết về nền tảng của tội, biết về nhân sanh tội, biết về sự đoạn diệt của tội, biết về sự thực hành đưa đến sự đoạn diệt của tội.
3. Vị nắm vững về Luật bị xem là “ngu dốt” khi có mười điều khác nữa: Vị không biết về sự tranh tụng, không biết về nền tảng của tranh tụng, không biết về nhân sanh của tranh tụng, không biết về sự đoạn diệt của tranh tụng, không biết về sự thực hành đưa đến sự đoạn diệt của tranh tụng, không biết về sự việc, không biết về duyên khởi, không biết về điều quy định, không biết về điều quy định thêm, không biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc.
Vị nắm vững về Luật được xem là “thông thái” khi có mười điều: Vị biết về sự tranh tụng, biết về nền tảng của tranh tụng, biết về nhân sanh của tranh tụng, biết về sự đoạn diệt của tranh tụng, biết về sự thực hành đưa đến sự đoạn diệt của tranh tụng, biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về điều quy định thêm, biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc.
4. Vị nắm vững về Luật bị xem là “ngu dốt” khi có mười điều khác nữa: Vị không biết về lời đề nghị, không biết cách thực hiện với lời đề nghị, không thiện xảo về phần [cần trình bày] đầu tiên, không thiện xảo về các phần kế tiếp, không biết về thời điểm, không biết về sự phạm tội hay không phạm tội, không biết tội nhẹ hay nặng, không biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, không biết tội xấu xa hay không xấu xa, không khéo được kế thừa theo tuần tự từ các vị thầy và không khéo chăm chú không khéo suy xét.
Vị nắm vững về Luật được xem là “thông thái” khi có mười điều: Vị biết về lời đề nghị, biết cách thực hiện với lời đề nghị, thiện xảo về phần [cần trình bày] đầu tiên, thiện xảo về các phần kế tiếp, biết về thời điểm, biết về sự phạm tội hay không phạm tội, biết tội nhẹ hay nặng, biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, biết tội xấu xa hay không xấu xa, khéo được kế thừa theo tuần tự từ các vị thầy và khéo chăm chú khéo suy xét.
5. Vị nắm vững về Luật bị xem là “ngu dốt” khi có mười điều khác nữa: Vị không biết về sự phạm tội hay không phạm tội; không biết tội nhẹ hay nặng; không biết tội còn dư sót hay không còn dư sót; không biết tội xấu xa hay không xấu xa; đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) không khéo được truyền thừa với chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo được ứng dụng, không khéo được xác định theo từng điều theo từng từ ngữ; không biết về sự phạm tội hay không phạm tội; không biết tội nhẹ hay nặng; không biết tội còn dư sót hay không còn dư sót; không biết tội xấu xa hay không xấu xa; không khéo léo về sự phán quyết trong tranh tụng.
Vị nắm vững về Luật được xem là “thông thái” khi có mười điều: Vị biết về sự phạm tội hay không phạm tội; biết tội nhẹ hay nặng; biết tội còn dư sót hay không còn dư sót; biết tội xấu xa hay không xấu xa; đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) khéo được truyền thừa với chi tiết, khéo được phân tích, khéo được ứng dụng, khéo được xác định theo từng điều theo từng từ ngữ; biết về sự phạm tội hay không phạm tội; biết tội nhẹ hay nặng; biết tội còn dư sót hay không còn dư sót; biết tội xấu xa hay không xấu xa; khéo léo về sự phán quyết trong tranh tụng.
6. Vị Tỳ-khưu có mười yếu tố nên được chỉ định làm vị đại biểu. Đức Như Lai quy định điều học cho các Thinh văn vì mười điều lợi ích. [a][9] Mười điều nguy hiểm trong việc đi vào hậu cung của đức vua. [b][10] Mười vật bố thí. [c][11] Mười loại báu vật. [d][12] Hội chúng Tỳ-khưu nhóm mười vị. Nên cho tu lên bậc trên với tập thể là nhóm mười vị. Mười loại vải paṃsukūla. [e][13] Mười loại y và cách sử dụng. [f][14] Y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. [g][15] Mười loại tinh dịch. [h][16] Mười hạng người nữ. Mười hạng vợ. [i][17] Mười sự việc được công bố ở thành Vesālī. [j][18]
Mười hạng người không nên đảnh lễ. [k][19] Mười biểu hiện của sự mắng nhiếc. [l][20] Vị tạo ra sự đâm thọc theo mười biểu hiện. [m][21] Mười loại sàng tọa. [n][22] Họ đã yêu cầu mười điều ước muốn. [o][23] Mười sự đình chỉ Giới bổn (Pātimokkha) sai Pháp. Mười sự đình chỉ Giới bổn (Pātimokkha) đúng Pháp. Mười điều lợi ích của cháo. [p][24] Mười loại thịt không được phép. [q][25] Mười điều tối đa. Vị Tỳ-khưu mười năm, có kinh nghiệm, có năng lực, nên cho xuất gia, nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ. Vị Tỳ-khưu-ni mười năm, có kinh nghiệm, có năng lực, nên cho xuất gia, nên ban phép tu lên bậc trên, nên ban cho phép nương nhờ, nên để cho Sa-di-ni phục vụ. [r][26] Sự đồng ý về việc tiếp độ nên được chấp thuận cho vị Tỳ-khưu-ni mười năm, có kinh nghiệm, có năng lực. Sự học tập nên được ban cho đến người nữ đã kết hôn khi mười tuổi.
Dứt “Nhóm mười.”
*****
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
1. [Mười] sự việc gây nóng giận, cách đối trị, [mười] sự việc [đã được rèn luyện], tà và chánh, [mười] hữu biên [kiến], [mười] sự sai trái, luôn cả [mười] sự đúng đắn, [mười] nghiệp thiện và cả bất thiện nữa.
2. [Mười] cách phân phát thẻ sai Pháp và đúng Pháp, Sa-di, sự trục xuất, lời nói, luôn cả [mười] sự tranh tụng, sự quy định, luôn cả [tội] nhẹ nữa.
3. Các tội nhẹ nặng này, các vị hãy biết tối và sáng, [mười] yếu tố về đại biểu, [mười] điều học, ở hậu cung, các sự việc.
4. Báu vật, nhóm mười, các sự tu lên bậc trên là tương tợ y như thế, [mười loại] vải paṃsukūla, [mười] cách sử dụng y, mười ngày, tinh dịch và [mười] hạng người nữ.
5. [Mười] hạng vợ, mười sự việc, không đảnh lễ, với sự mắng nhiếc, luôn cả các sự đâm thọc, các sàng tọa, [mười] điều ước muốn và các sự sai Pháp.
6. Các sự đúng Pháp, cháo và thịt, [mười] điều tối đa, vị Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu-ni, các sự tiếp độ, các người nữ đã kết hôn, nhóm mười đã khéo được giảng giải.
--ooOoo--
[1] [o] Mười tà kiến căn bản: Là không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại (D. 2, Sāmaññaphalasuttaṃ (Kinh Sa-môn quả) lời dịch của HT. Thích Minh Châu).
[2] [p] Mười chánh kiến căn bản: Được hiểu đối nghịch lại (VinA. VII. 1343).
[3] [q] Mười hữu biên kiến: [Có phải] thế giới là vĩnh viễn? [Có phải] thế giới là không vĩnh viễn? [Có phải] thế giới là hữu biên? [Có phải] thế giới là vô biên? [Có phải] mạng sống và thân thể là chung? [Có phải] mạng sống và thân thể là khác biệt? Như Lai còn tồn tại sau khi chết? Như Lai không còn tồn tại sau khi chết? Như Lai còn và không còn tồn tại sau chết? Như Lai không phải còn tồn tại và cũng không phải không tồn tại sau khi chết? (Aṅguttaranikāya (Kinh Tăng chi), pháp 10 chi, phẩm Upāli).
[4] [r] Mười sự sai trái: Là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ,... tà trí, tà giải thoát. Mười sự chân chánh có ý nghĩa đối nghịch lại (VinA. VII. 1343).
[5] [s] Mười đường lối của nghiệp bất thiện: Thân có ba nghiệp: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, khẩu có bốn, ý có ba. Mười đường lối của nghiệp thiện có ý nghĩa đối nghịch lại.
[6] [t] Mười cách phân phát thẻ sai Pháp và mười cách phân phát thẻ đúng Pháp được đề cập ở tr. 669 trong tập này; TTPV, tập 6, Cv. I, chương IV, tr. 363.
[7] [u] Mười điều học của các Sa-di: Được đề cập ở tr. 103 trong tập này; TTPV, tập 4, Mv. I, chương I, tr. 209.
[8] [v] Vị Sa-di có mười yếu tố nên bị trục xuất: Được đề cập ở Sđd., tr. 213.
[9] [a] Mười điều lợi ích về việc quy định điều học. Xem ở điều học Pārājika thứ nhất, Pārājikapāḷi (Phân tích Giới Tỳ-khưu), TTTĐPGVN, tập 10, tr. 34; TTPV, tập 1, tr. 49.
[10] [b] Mười điều nguy hiểm trong việc đi vào hậu cung của đức vua. Xem ở điều học Pācittiya 83 của Tỳ-khưu.
[11] [c] Mười vật bố thí: Cơm, nước, vải, xe cộ, tràng hoa, vật thơm, vật thoa, chỗ nằm, chỗ trú ngụ, đèn (VinA. VII. 1344).
[12] [d] Mười loại báu vật: Là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, vỏ sò, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ruby, ngọc mắt mèo. Xem tr. 883 trong tập này; TTPV, tập 7, Cv. II, chương IX, tr. 431.
[13] [e] Mười loại vải paṃsukūla: Loại ở bãi tha ma, bỏ ở ngoài cửa tiệm, bị chuột gặm, bị mối nhấm, bị lửa cháy, loại bị bò nhai, bị dê nhai, y nơi bảo tháp, loại thuộc về lễ đăng quang [của đức vua], vải dành cho tôi tớ (VinA. VII. 1344). Mười loại vải paṃsukūla này đã được trình bày cũng trong tập này ở tr. 51.
[14] [f] Mười loại y: Gồm có chín loại y đã được kể ở phần nhóm chín thêm vào vải choàng tắm hay áo lót của Tỳ-khưu-ni là mười (VinA. VII. 1344).
[15] [g] Y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. Xem điều học Nissaggiya Pācittiya thứ nhất của Tỳ-khưu.
[16] [h] Mười loại tinh dịch. Xem điều học Saṅghādisesa thứ nhất của Tỳ-khưu.
[17] [i] Mười hạng người nữ và mười hạng vợ. Xem điều học Saṅghādisesa 5 của Tỳ-khưu.
[18] [j] Mười sự việc được công bố ở thành Vesālī: Được phép cất giữ muối trong ống sừng, được phép ăn khi bóng mặt trời đã hai ngón tay, được phép đi vào làng rồi ăn thêm lần nữa, được phép hành Uposatha riêng rẽ, được phép hành sự không đủ Tỳ-khưu, được phép thực hành theo tập quán, được phép uống sữa chua lúc quá ngọ, được phép uống nước trái cây lên men, được phép sử dụng tọa cụ không có viền quanh, được phép tích trữ vàng bạc. Xem tr. 951 trong tập này; TTPV, tập 7, Cv. II, chương XII, tr. 567.
[19] [k] Mười hạng người không nên đảnh lễ: Được đề cập ở Sđd., chương VI, tr. 179.
[20] [l] Mười sự việc của sự mắng nhiếc: Được đề cập ở điều học Pācittiya 2 của Tỳ-khưu.
[21] [m] Vị tạo ra sự đâm thọc theo mười biểu hiện: Được đề cập ở điều học Pācittiya 3 của Tỳ-khưu.
[22] [n] Mười loại sàng tọa: Giường ghế, gối, nệm, tấm lót nền, vải phủ giường ghế, thảm trải nền, tấm da thú, tấm lót ngồi, thảm cỏ, thảm lá (VinA. VII. 1344).
[23] [o] Họ đã yêu cầu mười điều ước muốn: Là tám điều ước muốn do bà Visākhā thỉnh cầu, một điều do đức Vua Suddhodana yêu cầu về việc xuất gia phải có phép của cha mẹ và một do thầy thuốc Jīvaka xin đức Phật cho phép các Tỳ-khưu được phép nhận y của gia chủ cúng dường (Sđd.).
[24] [p] Mười điều lợi ích của cháo. Xem tr. 288 trong tập này; TTPV, tập 5, Mv. II, chương VI, tr. 45.
[25] [q] Mười loại thịt không được phép: Là thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói (Sđd., tr. 39-43).
[26] [r] Ở điều này và điều kế, có sự lầm lẫn vì Tỳ-khưu-ni phải là “mười hai năm” thâm niên mới có thể tiếp độ đệ tử, còn trường hợp “mười năm” là dành cho Tỳ-khưu (ND).