Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »
7. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, và án treo đối với các Tỳ-khưu không có sự thừa nhận. Các Tỳ-khưu nào ít ham muốn, ...(nt)... các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư lại thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, và án treo đối với các Tỳ-khưu không có sự thừa nhận?”
Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, nghe nói ...(nt)... có đúng không vậy?
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy. ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hành sự khiển trách hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo không nên thực hiện đối với các Tỳ-khưu không có sự thừa nhận; vị nào thực hiện thì phạm tội Dukkaṭa.
8. Này các Tỳ-khưu, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như vầy là sai Pháp, như vầy là đúng Pháp. Và này các Tỳ-khưu, thế nào là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp?
Vị Tỳ-khưu phạm tội Pārājika. Hội chúng hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải vị Đại đức đã phạm tội Pārājika?” Vị ấy nói như vầy: “Này các Đại đức, tôi đã không phạm tội Pārājika, tôi đã phạm tội Saṅghādisesa.” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội Saṅghādisesa. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp.
Vị Tỳ-khưu phạm tội Pārājika. Hội chúng hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải vị Đại đức đã phạm tội Pārājika?” Vị ấy nói như vầy: “Này các Đại đức, tôi đã không phạm tội Pārājika, tôi đã phạm tội Thullaccaya. ...(nt)... tội Pācittiya. ...(nt)... tội Pāṭidesanīya. ...(nt)... tội Dukkaṭa. ...(nt)... tội Dubbhāsita. Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội Dubbhāsita. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp.
Vị Tỳ-khưu phạm tội Saṅghādisesa. ...(nt)... tội Thullaccaya. ...(nt)... tội Pācittiya. ...(nt)... tội Pāṭidesanīya. ...(nt)... tội Dukkaṭa. ...(nt)... tội Dubbhāsita. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải vị Đại đức đã phạm tội Dubbhāsita?” Vị ấy nói như vầy: “Này các Đại đức, tôi đã không phạm tội Dubbhāsita, tôi đã phạm tội Pārājika.” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội Pārājika. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp.
Vị Tỳ-khưu phạm tội Dubbhāsita. Hội chúng hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải vị Đại đức đã phạm tội Dubbhāsita?” Vị ấy nói như vầy: “Này các Đại đức, tôi đã không phạm tội Dubbhāsita, tôi đã phạm tội Saṅghādisesa. ...(nt)... tôi đã phạm tội Thullaccaya. ...(nt)... tội Pācittiya. ...(nt)... tội Pāṭidesanīya. ...(nt)... tội Dukkaṭa.” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội Dukkaṭa. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp. Này các Tỳ-khưu, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như thế gọi là sai Pháp.
9. Này các Tỳ-khưu, thế nào là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp?
Vị Tỳ-khưu phạm tội Pārājika. Hội chúng hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải vị Đại đức đã phạm tội Pārājika?” Vị ấy nói như vầy: “Này các Đại đức, tôi đã phạm tội Pārājika.” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội Pārājika. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp.
Vị Tỳ-khưu phạm tội Saṅghādisesa. ...(nt)... tội Thullaccaya. ...(nt)... tội Pācittiya. ...(nt)... tội Pāṭidesanīya. ...(nt)... tội Dukkaṭa. ...(nt)... tội Dubbhāsita. Hội chúng hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải vị Đại đức đã phạm tội Dubbhāsita?” Vị ấy nói như vầy: “Này các Đại đức, tôi đã phạm tội Dubbhāsita.” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội Dubbhāsita. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp.
Này các Tỳ-khưu, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như thế gọi là đúng Pháp.
--ooOoo—