Tam tạng thánh điển PGVN 11 » Tạng Tam Tạng Thượng Toạn Bộ 11 »
1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, nơi cội cây Bồ-đề và vừa mới thành tựu quả vị Chánh đẳng giác.
2. Khi ấy, đức Thế Tôn đã ngồi với thế kiết-già ở cội cây Bồ-đề trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
3. Khi ấy, vào canh một của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng:
4. “Vô minh duyên cho các hành [sanh khởi], các hành duyên cho thức [sanh khởi], thức duyên cho danh sắc [sanh khởi], danh sắc duyên cho sáu xứ [sanh khởi], sáu xứ duyên cho xúc [sanh khởi], xúc duyên cho thọ [sanh khởi], thọ duyên cho ái [sanh khởi], ái duyên cho thủ [sanh khởi], thủ duyên cho hữu [sanh khởi], hữu duyên cho sanh [sanh khởi], sanh duyên cho lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
5. Nhưng chính do sự diệt tận hoàn toàn không còn tham ái của vô minh [đưa đến] sự diệt tận của các hành, do sự diệt tận của các hành [đưa đến] sự diệt tận của thức, do sự diệt tận của thức [đưa đến] sự diệt tận của danh sắc, do sự diệt tận của danh sắc [đưa đến] sự diệt tận của sáu xứ, do sự diệt tận của sáu xứ [đưa đến] sự diệt tận của xúc, do sự diệt tận của xúc [đưa đến] sự diệt tận của thọ, do sự diệt tận của thọ [đưa đến] sự diệt tận của ái, do sự diệt tận của ái [đưa đến] sự diệt tận của thủ, do sự diệt tận của thủ [đưa đến] sự diệt tận của hữu, do sự diệt tận của hữu [đưa đến] sự diệt tận của sanh, do sự diệt tận của sanh [đưa đến] lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não bị diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.”
6. Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền thì tất cả điều nghi hoặc của vị ấy được rũ sạch, từ đó nhận biết rằng [mọi] việc là có nguyên nhân.”
7. Sau đó, vào canh giữa của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng: “Vô minh duyên cho các hành [sanh khởi], các hành duyên cho thức [sanh khởi], thức duyên cho danh sắc [sanh khởi], danh sắc duyên cho sáu xứ [sanh khởi], ...(nt)... Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. ...(nt)... là sự diệt tận [của toàn bộ khổ uẩn này].”
8. Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy rồi, chính vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền thì tất cả điều nghi hoặc của vị ấy được rũ sạch, từ đó đã hiểu được sự tiêu hoại của các duyên.”
9. Sau đó, vào canh cuối của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng: “Vô minh duyên cho các hành [sanh khởi], các hành duyên cho thức [sanh khởi], thức duyên cho danh sắc [sanh khởi], danh sắc duyên cho sáu xứ [sanh khởi], ...(nt)... Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. ...(nt)... là sự diệt tận [của toàn bộ khổ uẩn này].”
10. Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền, trong khi đánh tan binh đội của Ma vương, [vị ấy] hiển hiện tợ như ánh mặt trời đang rọi sáng không gian.”
Dứt phần giảng về sự giác ngộ.
*****
1. Sau đó, khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy, rồi từ cội cây Bồ-đề đã đi đến cây si của những người chăn dê,[1] sau khi đến đã ngồi xuống với thế kiết-già ở cội cây si của những người chăn dê trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
2. Khi ấy, có vị Bà-la-môn nọ thuộc nhóm chuyên luyện về âm “hum, hum” đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, vị Bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Này Ngài Gotama, [khả năng] đến đâu [mới gọi] là Bà-la-môn? Việc trở thành Bà-la-môn có bao nhiêu điều kiện?”
3. Sau khi hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Vị Bà-la-môn nào có ác pháp đã được ngăn trừ, là vị không làm tiếng ‘hum hum’, đã thoát khỏi điều ô nhiễm, có bản thân đã được thu thúc, là vị thông thạo các bộ Vệ-đà, sống theo đời Phạm hạnh; vị ấy có thể thuyết giảng một cách đúng đắn lời nói của Phạm thiên; vị ấy không có khuyết điểm về bất cứ điều gì ở trên thế gian.”
Dứt phần giảng về [cội cây si của những] người chăn dê.
*****
1. Sau đó, khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây si của những người chăn dê đã đi đến cây Mucalinda, sau khi đến đã ngồi xuống với thế kiết-già ở cội cây Mucalinda trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
2. Vào lúc bấy giờ, có đám mây đen lớn sái mùa xuất hiện. Trong bảy ngày, trời mưa, có gió lạnh và đầy mây.
3. Khi ấy, rồng chúa Mucalinda đã rời khỏi chỗ ngụ của mình, dùng đuôi quấn quanh cơ thể của đức Thế Tôn bảy vòng và phồng lớn mang rồi duy trì ở phía trên đầu của đức Thế Tôn [nghĩ rằng]: “Chớ để đức Thế Tôn bị lạnh, chớ để đức Thế Tôn bị nóng, chớ để đức Thế Tôn bị xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng và các loài bò sát.”
4. Sau đó, khi bảy ngày trôi qua, rồng chúa Mucalinda sau khi biết rằng bầu trời đã trở nên trong sáng và mây đã tan nên đã nới lỏng thân khỏi cơ thể của đức Thế Tôn, rồi thay đổi hình dạng của chính bản thân và biến thành hình dạng của người thanh niên, đứng ở phía trước đức Thế Tôn, tay chắp lại, bày tỏ thái độ cung kính đến đức Thế Tôn.
5. Sau khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy, đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ đang xem xét pháp đã được nghe. Sự không oán hận, không hãm hại mạng sống chúng sanh là niềm hạnh phúc ở trên đời.
Việc dứt được ái tình, sự vượt lên trên các dục là niềm an lạc ở trên đời. Và điều gì là sự thoát ra khỏi tự ngã, điều ấy chính là sự an lạc tối thượng.”
Dứt phần giảng về cây Mucalinda.
*****
1. Sau đó, khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy, rồi từ cội cây Mucalind đã đi đến cây Rājāyatana, sau khi đến đã ngồi xuống với thế kiết-già ở cội cây Rājāyatana trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
2. Vào lúc bấy giờ, có các thương buôn Tapassu và Bhallikā đang đi đường xa từ Ukkalā đến khu vực ấy. Khi ấy, vị thiên thần là thân quyến cùng huyết thống của các thương buôn Tapassu và Bhallikā đã nói với các thương buôn Tapassu và Bhallikā điều này:
– Này các bác, đức Thế Tôn này đang ngự ở cội cây Rājāyatana, là vị đầu tiên được hoàn toàn giác ngộ. Hãy đi và bày tỏ lòng thành kính đến đức Thế Tôn ấy với bánh bột gạo và mật viên. Điều ấy sẽ đem lại cho các bác sự lợi ích và sự an vui lâu dài.
3. Khi ấy, các thương buôn Tapassu và Bhallikā đã mang theo bánh bột gạo và mật viên đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, các thương buôn Tapassu và Bhallikā đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên của chúng tôi. Điều ấy sẽ đem lại cho chúng tôi sự lợi ích và sự an vui lâu dài.
4. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các đức Như Lai không thọ lãnh ở [hai] tay, vậy Ta nên thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên bằng vật gì?” Khi ấy, bốn vị Đại Thiên vương dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn, nên đã dâng lên đức Thế Tôn bốn cái bình bát làm bằng đá từ bốn phương [nói rằng]: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên ở đây.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên trong bình bát mới làm bằng đá,[2] và sau khi thọ lãnh đã thọ dụng.
5. Sau đó, các thương buôn Tapassu và Bhallikā đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và giáo pháp. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
Và họ đã trở thành những nam cư sĩ đọc hai câu [nương nhờ][3] đầu tiên ở thế gian.
Dứt phần giảng về cây Rājāyatana.
*****
1. Sau đó, khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy, rồi từ cội cây Rājāyatana đã đi đến cây si của những người chăn dê. Ở nơi ấy, đức Thế Tôn ngụ tại cội cây si của những người chăn dê.
2. Sau đó, trong khi đức Thế Tôn đang thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Pháp này đã được Ta chứng ngộ là [Pháp] thâm sâu, khó lĩnh hội, khó nhận thức, thanh tịnh, cao quý, vượt trên lý luận, tinh tế, sẽ được hiểu biết bởi các bậc trí. Tuy nhiên, chúng sanh này có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục. Quả vậy, đối với chúng sanh có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục thì vấn đề này khó lĩnh hội, tức là tính chất của duyên và sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện. Còn có vấn đề này còn khó lĩnh hội hơn nữa, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự dứt bỏ tất cả mầm mống của sự tái sanh, sự diệt tận ái, sự không còn dục tình, sự tịch diệt, Niết-bàn. Hơn nữa, nếu Ta thuyết giảng giáo pháp và những người khác không thể hiểu được Ta, điều ấy sẽ đem lại sự mệt mỏi cho Ta, điều ấy sẽ đem lại sự phiền toái cho Ta.”
3. Rồi những lời kệ kỳ diệu này chưa từng được nghe trước đây trong thời quá khứ đã hiện khởi đến đức Thế Tôn: “[Pháp này] đã được Ta chứng đắc một cách khó khăn, giờ đây khỏi phải thuyết giảng. Pháp này không dễ dàng được hiểu thấu đáo bởi những kẻ chìm đắm trong ái dục và sân hận. [Pháp này] đi ngược dòng [đời], tinh tế, thâm sâu, khó lĩnh hội, vi diệu, những kẻ thỏa thích ái dục, bị che phủ bởi tăm tối dày đặc, không thể nhận thức được.”
4. Trong khi đắn đo, cân nhắc như thế ấy, tâm của đức Thế Tôn thiên về [khuynh hướng] không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng giáo pháp. Khi ấy, vị Phạm thiên Sahampati dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã khởi ý điều này: “Như thế này thì thế gian bị tiêu diệt! Như thế này thì thế gian bị hủy hoại! Bởi vì tâm của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri thiên về [khuynh hướng] không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng giáo pháp.”
5. Sau đó, cũng giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại, hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra; tương tợ như thế, vị Phạm thiên Sahampati đã biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra ở phía trước đức Thế Tôn. Khi ấy, Phạm thiên Sahampati đã đắp thượng y một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, rồi chắp tay hướng về đức Thế Tôn và đã nói điều này:
– Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng giáo pháp, xin đấng Thiện Thệ hãy thuyết giảng giáo pháp. Có những hạng người sanh lên có tầm nhìn ít bị vấy bụi, sẽ là những người hiểu được giáo pháp, [nhưng] do việc không nghe giáo pháp sẽ bị tha hóa.
Phạm thiên Sahampati đã nói điều ấy, sau khi nói điều ấy còn nói thêm điều khác nữa:
– Trước đây, ở trong xứ Magadha đã xuất hiện pháp không thanh tịnh, được nghĩ ra bởi những người có sự ô nhiễm. Xin Ngài hãy mở ra cánh cửa bất tử này. Hãy [để cho chúng sanh] lắng nghe giáo pháp đã được chứng ngộ bởi bậc Vô Nhiễm.
Như người đứng trên tảng đá ở đỉnh đầu của ngọn núi, cũng giống như người nhìn xem nhân loại ở xung quanh, tương tợ như thế ấy, hỡi bậc Trí, Ngài hãy bước lên tòa lâu đài được xây bằng giáo pháp. Hỡi bậc Thông Hiểu Rộng là bậc đã thoát khỏi buồn đau, xin Ngài hãy nhìn xuống xem nhân loại bị đắm chìm trong sầu khổ, bị hành hạ bởi sự sanh và sự già.
Hỡi vị Anh Hùng, người đã chiến thắng trận đấu, xin Ngài hãy đứng lên. Hỡi người hướng dẫn đoàn xe, vị không vướng nợ nần, xin Ngài hãy du hành ở thế gian. Xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng giáo pháp, sẽ có nhiều người hiểu được.
6. Sau đó, khi đã hiểu được yêu cầu của vị Phạm thiên, đức Thế Tôn thuận theo lòng thương tưởng chúng sanh đã dùng Phật nhãn quán xét thế gian. Trong khi dùng Phật nhãn quán xét thế gian, đức Thế Tôn đã nhìn thấy các chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, [và nhìn thấy] một số chúng sanh đang sống có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tội lỗi và [sự tái sanh vào] những đời sống khác.
Cũng giống như ở hồ sen xanh, hoặc ở hồ sen hồng, hoặc ở hồ sen trắng, có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, không vươn ra khỏi nước và được nuôi dưỡng chìm ở bên trong [nước]; có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, sống ngang bằng mặt nước; và có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, vươn lên khỏi nước và tồn tại không bị thấm nước; tương tợ như thế, đức Thế Tôn trong khi dùng Phật nhãn quán xét thế gian đã nhìn thấy các chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, [và nhìn thấy] một số chúng sanh đang sống có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tội lỗi và [sự tái sanh vào] những đời sống khác; sau khi nhìn thấy, đã nói với vị Phạm thiên Sahampati bằng bài kệ này: “Các cánh cửa bất tử đã được mở ra cho những người có sự lắng nghe. Hãy khiến chúng từ bỏ tà tín. Này Phạm thiên, với suy nghĩ về việc tổn hại, Ta đã không thuyết giảng pháp cao quý tuyệt vời cho nhân loại.”
Khi ấy, vị Phạm thiên Sahampati [nghĩ rằng]: “Ta đã tạo ra cơ hội cho đức Thế Tôn thuyết giảng giáo pháp” nên đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh và đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Dứt phần giảng về sự thỉnh cầu của vị Phạm thiên.
*****
1. Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng giáo pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được giáo pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vị Āḷāra Kālāma này là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đã lâu nay có bản thể bị ít ô nhiễm, hay là Ta nên thuyết giảng giáo pháp đến Āḷāra Kālāma trước tiên? Vị ấy sẽ hiểu được giáo pháp này một cách thật nhanh chóng.” Khi ấy, có vị thiên thần không hiện hình đã thông báo đến đức Thế Tôn rằng:
– Bạch Ngài, vị Āḷāra Kālāma đã từ trần được bảy ngày rồi.
Và trí của đức Thế Tôn cũng đã khởi lên rằng: “Vị Āḷāra Kālāma đã từ trần được bảy ngày rồi.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vị Āḷāra Kālāma thuộc hạng người cao cả, bởi vì nếu nghe được giáo pháp này, vị ấy có thể hiểu được một cách thật nhanh chóng.”
2. Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng giáo pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được giáo pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vị Uddaka Rāmaputta này là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, lâu nay đã có bản thể bị ít ô nhiễm, hay là Ta nên thuyết giảng giáo pháp đến Uddaka Rāmaputta trước tiên? Vị ấy sẽ hiểu được giáo pháp này một cách thật nhanh chóng.” Khi ấy, có vị thiên thần không hiện hình đã thông báo đến đức Thế Tôn rằng:
– Bạch Ngài, vị Uddaka Rāmaputta đã từ trần vào đêm qua.
Và trí của đức Thế Tôn cũng đã khởi lên rằng: “Vị Uddaka Rāmaputta đã từ trần vào đêm qua.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vị Uddaka Rāmaputta thuộc hạng người cao cả, bởi vì nếu nghe được giáo pháp này vị ấy có thể hiểu được một cách thật nhanh chóng.”
3. Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng giáo pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được giáo pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các Tỳ-khưu nhóm năm vị có nhiều công đức đối với Ta, các vị này đã phục vụ Ta trong khi Ta có sự nỗ lực quyết tâm,[4] hay là Ta nên thuyết giảng giáo pháp đến các Tỳ-khưu nhóm năm vị trước tiên?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Giờ đây, các Tỳ-khưu nhóm năm vị này trú ngụ ở nơi nào?” Với thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, đức Thế Tôn đã nhìn thấy các Tỳ-khưu nhóm năm vị đang trú ngụ tại thành Bārāṇasī, ở Isipatana, nơi vườn Nai. Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bārāṇasī.
4. Đạo sĩ lõa thể Upaka đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi đường xa, ở khoảng giữa Gayā và cội Bồ-đề, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
− Này đạo hữu, các giác quan của đạo hữu được trầm tĩnh, màu da được thanh tịnh và trong sáng. Này đạo hữu, vì ai mà đạo hữu đã xuất gia? Ai là thầy của đạo hữu? Đạo hữu ưa thích pháp của vị nào?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ lõa thể Upaka bằng những lời kệ này:
“Ta là bậc Vượt Trên Tất Cả, là người hiểu biết toàn bộ, không còn bị vướng mắc trong tất cả các pháp, đã dứt bỏ tất cả, đã được giải thoát trong việc đoạn tận tham ái, sau khi tự mình chứng đắc thì ai có thể chỉ dạy [được Ta]?
Không có ai là thầy của Ta, người tương đương với Ta không tìm thấy, trong thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của Ta.
Bởi vì Ta là bậc A-la-hán, bậc Vô Thượng Sư ở trên đời. Chỉ mình Ta là bậc Chánh Đẳng Giác, Ta có được trạng thái mát mẻ, Niết-bàn.
Ta đi đến thành Kāsī để chuyển vận bánh xe giáo pháp. Ta sẽ đánh lên tiếng trống bất tử ở thế gian đang bị tối tăm.”
− Này đạo hữu, theo như đạo hữu cho biết thì đạo hữu xứng đáng là bậc Chiến Thắng Vô Biên.
[Đức Phật đáp lại rằng:]
− Này Upaka, quả vậy, tương đương với Ta là các bậc Chiến Thắng đã đạt đến việc đoạn tận các lậu hoặc. Ta đã chiến thắng các ác pháp, vì thế Ta là bậc Jina.
5. Khi được nói như thế, đạo sĩ lõa thể Upaka đã nói rằng: “Này đạo hữu, có thể là như vậy.” Rồi đã gục gặc cái đầu, rẽ sang con đường khác và bỏ đi.
6. Sau đó, trong khi tuần tự du hành, đức Thế Tôn đã ngự đến thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn Nai và đã đi đến gặp các Tỳ-khưu nhóm năm vị. Các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy các vị đã bàn bạc với nhau rằng: “Này các vị, Sa-môn Gotama ấy đang đi đến. Ông ta là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực và đã quay trở lại cuộc sống sung túc. Ông ta không đáng để đảnh lễ, không đáng để đứng dậy, y bát của ông ta không đáng để đón nhận; tuy nhiên chỗ ngồi nên được xếp đặt, nếu ông ta muốn thì ông ta cứ việc ngồi.”
7. Nhưng khi đức Thế Tôn càng đi đến gần các Tỳ-khưu nhóm năm vị, thì các Tỳ-khưu nhóm năm vị ấy đã không thể tuân theo điều thỏa thuận của họ. Trong khi không tuân theo, họ đã đi ra tiếp đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp đặt chỗ ngồi, một vị đã đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã rửa hai chân. Tuy nhiên, các vị vẫn xưng hô với đức Thế Tôn bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.”
Khi được gọi như thế, đức Thế Tôn đã nói với các Tỳ-khưu nhóm năm vị điều này:
− Này các Tỳ-khưu, chớ xưng hô với Như Lai bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Này các Tỳ-khưu, Như Lai là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ-khưu, hãy lắng tai nghe, Ta sẽ giảng dạy pháp bất tử đã đạt được, Ta sẽ thuyết giảng giáo pháp. Trong khi thực hành theo như đã được giảng dạy thì chẳng bao lâu sau, ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ chứng ngộ, đạt đến và an trú vào mục đích tối thượng ấy của Phạm hạnh. Vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh, sống không nhà.
8. Khi được nói như thế, các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
− Này Đạo hữu Gotama, thậm chí với hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực và đã quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào Đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh?
Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các Tỳ-khưu nhóm năm vị điều này:
− Này các Tỳ-khưu, Như Lai không phải là kẻ lợi dưỡng, không bỏ dở dang việc nỗ lực và đã không quay trở lại cuộc sống sung túc. Này các Tỳ-khưu, Như Lai là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ-khưu, hãy lắng tai nghe, Ta sẽ giảng dạy pháp bất tử đã đạt được, Ta sẽ thuyết giảng giáo pháp. Trong khi thực hành theo như đã được giảng dạy thì chẳng bao lâu sau, ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ chứng ngộ, đạt đến và an trú vào mục đích tối thượng ấy của Phạm hạnh. Vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh, sống không nhà.
Đến lần thứ nhì, các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này: ...(nt)... Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với các Tỳ-khưu nhóm năm vị điều này: ...(nt).
Đến lần thứ ba, các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:
− Này Đạo hữu Gotama, thậm chí với hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến, xứng đáng với bậc Thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực và đã quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào Đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến, xứng đáng với bậc Thánh?
9. Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các Tỳ-khưu nhóm năm vị rằng:
– Này các Tỳ-khưu, các vị có nhận biết rằng điều này đã không được Ta nói ra như vầy trước đây hay không?
– Bạch Ngài, điều này đúng là không có [nói].[5]
– Này các Tỳ-khưu, Như Lai là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ-khưu, hãy lắng tai nghe, Ta sẽ giảng dạy pháp bất tử đã đạt được, Ta sẽ thuyết giảng giáo pháp. Trong khi thực hành theo như đã được giảng dạy thì chẳng bao lâu sau, ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ chứng ngộ, đạt đến và an trú vào mục đích tối thượng ấy của Phạm hạnh. Vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh, sống không nhà.
Đức Thế Tôn đã có thể thuyết phục các Tỳ-khưu nhóm năm vị. Sau đó, các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã lắng nghe đức Thế Tôn, đã lắng tai, đã thiết lập tâm hướng đến trí chứng ngộ. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các Tỳ-khưu nhóm năm vị rằng:
10. − Này các Tỳ-khưu, đây là hai cực đoan mà bậc xuất gia không nên thực hành: Đây là sự say đắm về dục lạc trong các dục, kém cỏi, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, không đem lại lợi ích và đây là sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, đau khổ, không cao thượng, không đem lại lợi ích. Này các Tỳ-khưu, sau khi không tiếp cận cả hai cực đoan ấy, lối thực hành trung đạo đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng,2 dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết-bàn.
11. Này các Tỳ-khưu, lối thực hành trung đạo ấy đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết-bàn là thế nào? Đó chính là Thánh đạo tám chi phần, tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, lời nói chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nuôi mạng chân chánh, tinh tấn chân chánh, ghi nhớ chân chánh, định tâm chân chánh. Này các Tỳ-khưu, lối thực hành trung đạo ấy đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng,[6] dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết-bàn.
12. Này các Tỳ-khưu, đây là chân lý cao thượng, tức là sự khổ: Sanh cũng là khổ, già cũng là khổ, bệnh cũng là khổ, chết cũng là khổ, sự gắn bó với những gì không ưa thích cũng là khổ, sự chia lìa với những gì ưa thích cũng là khổ, không đạt được điều ước muốn cũng là khổ; một cách tóm tắt, năm sự bám víu ở các uẩn là khổ.
13. Này các Tỳ-khưu, đây là chân lý cao thượng, tức là nguyên nhân của khổ. Điều ấy chính là ái đưa đến tái sanh, liên kết với khoái lạc và say đắm, có sự thỏa thích ở nơi này nơi khác, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
14. Này các Tỳ-khưu, đây là chân lý cao thượng, tức là sự diệt khổ. Điều ấy là sự dứt bỏ, sự dứt ra khỏi, sự giải thoát, sự không còn chỗ nương tựa, sự diệt tận và dứt bỏ lòng say đắm không còn dư sót của chính ái ấy.
15. Này các Tỳ-khưu, đây là chân lý cao thượng, tức là sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt khổ. Đó chính là Thánh đạo tám chi phần, tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, ...(nt)... định tâm chân chánh.
16. Này các Tỳ-khưu, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là chân lý cao thượng tức là sự khổ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được ...(nt)... “Đây là chân lý cao thượng, tức là sự khổ cần được hiểu rõ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “...(nt)... đã được hiểu rõ.”
17. Này các Tỳ-khưu, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là chân lý cao thượng, tức là nguyên nhân của khổ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được ...(nt)... “Đây là chân lý cao thượng, tức là nguyên nhân của khổ cần được dứt bỏ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “...(nt)... đã được dứt bỏ.”
18. Này các Tỳ-khưu, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là chân lý cao thượng, tức là sự diệt khổ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được ...(nt)... “Đây là chân lý cao thượng, tức là sự diệt khổ cần được chứng ngộ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, ...(nt)... ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “...(nt)... đã được chứng ngộ.”
19. Này các Tỳ-khưu, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, ...(nt)... ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là chân lý cao thượng, tức là sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt khổ.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được ...(nt)... “Đây là chân lý cao thượng, tức là sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt khổ cần được tu tập.” Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, Ta có được [pháp] nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe: “...(nt)... đã được tu tập.”
20. Này các Tỳ-khưu, và cho đến khi nào tri kiến thấy đúng thực chất của Ta về ba luân [vòng xoay] và mười hai thể [tính chất], về bốn chân lý cao thượng này chưa được thực sự thanh tịnh; này các Tỳ-khưu, cho đến khi ấy, Ta chưa công bố là Ta đã hoàn toàn giác ngộ về Vô thượng Chánh đẳng giác ở trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư thiên và loài người.
21. Và này các Tỳ-khưu, bởi vì tri kiến thấy đúng thực chất của Ta về ba luân và mười hai thể ở bốn chân lý cao thượng này đã được thực sự thanh tịnh; này các Tỳ-khưu, khi ấy Ta đã công bố là Ta đã hoàn toàn giác ngộ về Vô thượng Chánh đẳng giác ở trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư thiên và loài người. Hơn nữa, trí tuệ và sự thấy biết của Ta đã sanh khởi: “Sự giải thoát tâm của Ta là không thể thay đổi, đây là lần sanh cuối cùng, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
22. Hơn nữa, trong khi bài kinh này được thuyết giảng, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Đại đức Koṇḍañña: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
23. Hơn thế nữa, khi bánh xe pháp được chuyển vận bởi đức Thế Tôn, chư thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng: “Bánh xe pháp vô thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn Nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, thiên nhân, Ma vương, Phạm thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”
24. Sau khi nghe được tiếng đồn của chư thiên ở địa cầu, chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồn đãi lời rằng: ...(nt)... Sau khi nghe được tiếng đồn của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, chư thiên ở cõi Đạo-lợi đã đồn đãi lời rằng: ...(nt)... chư thiên ở cõi Dạ-ma, ...(nt)... chư thiên ở cõi Đẩu-suất, ...(nt)... chư thiên ở cõi Hóa Lạc, ...(nt)... chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại, ...(nt)... chư thiên thuộc hàng Phạm thiên đã đồn đãi lời rằng: “Bánh xe pháp vô thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận ở Bārāṇasī tại Isipatana, nơi vườn Nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, thiên nhân, Ma vương, Phạm thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”
25. Vào thời khắc ấy, vào giây phút ấy, lời đồn đãi ấy đã đi đến các cõi trời Phạm thiên. Và mười ngàn thế giới này đã bị lay chuyển, rung động, chấn động. Và ánh sáng tuyệt vời không thể đo lường đã hiện ra ở thế gian, vượt quá năng lực siêu phàm của chư thiên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng rằng: “Koṇḍañña đã hiểu được! Koṇḍañña đã hiểu được!” Bởi thế, chính từ “Aññākoṇḍañña”[7] này đã trở thành tên gọi của Đại đức Koṇḍañña.
26. Sau đó, khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, Đại đức Aññākoṇḍañña đã nói với đức Thế Tôn điều này:
− Bạch Ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
− Này Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của vị Đại đức ấy.
27. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã giảng dạy các vị Tỳ-khưu còn lại bằng bài pháp thoại. Khi ấy, trong lúc được giáo huấn, được giảng dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài pháp thoại, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Đại đức Vappa và Đại đức Bhaddiya: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
− Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
− Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
28. Sau đó, với bữa ăn đã được mang lại, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã giảng dạy các vị Tỳ-khưu còn lại bằng bài pháp thoại. Nhóm sáu vị sống bằng vật mà ba vị Tỳ-khưu đi khất thực và mang về.
29. Khi ấy, trong lúc được giáo huấn, được giảng dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài pháp thoại, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Đại đức Mahānāma và Đại đức Assaji: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
− Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
− Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
30. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các Tỳ-khưu nhóm năm vị rằng:
− Này các Tỳ-khưu, sắc là vô ngã.[8] Này các Tỳ-khưu, bởi vì nếu sắc này là ngã thì sắc này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở sắc [theo ý muốn] rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, sắc của ta đừng trở thành như vầy.” Này các Tỳ-khưu, chính vì sắc là vô ngã, do đó, sắc đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở sắc [theo ý muốn] rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, sắc của ta đừng trở thành như vầy.”
31. Này các Tỳ-khưu, thọ là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, bởi vì nếu thọ này là ngã thì thọ này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở thọ [theo ý muốn] rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, thọ của ta đừng trở thành như vầy.” Này các Tỳ-khưu, chính vì thọ là vô ngã, do đó, thọ đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở thọ [theo ý muốn] rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, thọ của ta đừng trở thành như vầy.”
32. Này các Tỳ-khưu, tưởng là vô ngã. ...(nt)... Này các Tỳ-khưu, các hành là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, bởi vì nếu các hành này là ngã thì các hành này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở các hành [theo ý muốn] rằng: “Các hành của ta hãy là như vầy, các hành của ta đừng trở thành như vầy.” Này các Tỳ-khưu, chính vì các hành là vô ngã, do đó, các hành đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở các hành [theo ý muốn] rằng: “Các hành của ta hãy là như vầy, các hành của ta đừng trở thành như vầy.”
33. Này các Tỳ-khưu, thức là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, bởi vì nếu thức này là ngã thì thức này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở thức [theo ý muốn] rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, thức của ta đừng trở thành như vầy.” Này các Tỳ-khưu, chính vì thức là vô ngã, do đó, thức đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở thức [theo ý muốn] rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, thức của ta đừng trở thành như vầy.”
34. Này các Tỳ-khưu, các vị nghĩ gì về sắc ấy, là thường hay vô thường?
− Bạch Ngài, là vô thường.
− Vậy cái gì [đã] là vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
− Bạch Ngài, là khổ.
− Vậy cái gì [đã] là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có phải là hợp lý khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?”
− Bạch Ngài, điều ấy không [hợp lý].
− Này các Tỳ-khưu, thọ ...(nt)... tưởng ...(nt)... các hành ...(nt)... thức là thường hay vô thường?
− Bạch Ngài, là vô thường.
− Vậy cái gì [đã] là vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
− Bạch Ngài, là khổ.
− Vậy cái gì [đã] là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có phải là hợp lý khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?”
− Bạch Ngài, điều ấy không hợp lý.
35. − Này các Tỳ-khưu, như thế, trong trường hợp này, bất cứ sắc nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân, hay ngoài thân, thô kệch, hay vi tế, kém cỏi, hay cao quý, ở xa, hay ở gần, nên thấy được toàn bộ sắc ấy đúng như bản chất thật sự bằng trí tuệ chân chánh [như vầy]: “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.” Bất cứ thọ nào ...(nt)... bất cứ tưởng nào ...(nt)... bất cứ các hành nào ...(nt)... bất cứ thức nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân, hay ngoài thân, thô kệch, hay vi tế, kém cỏi, hay cao quý, ở xa hay ở gần, nên thấy được toàn bộ thức ấy đúng như bản chất thật sự bằng trí tuệ chân chánh [như vầy]: “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.”
36. Này các Tỳ-khưu, trong khi thấy được như thế, vị Thánh đệ tử có sự học hỏi không còn hứng thú trong sắc, không còn hứng thú trong thọ, không còn hứng thú trong tưởng, không còn hứng thú trong các hành, không còn hứng thú trong thức; trong khi không còn hứng thú, vị ấy không còn say đắm; do không còn say đắm, vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: “Đã được giải thoát.” Vị ấy biết được rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn gì khác [phải làm] đối với bản thể [A-la-hán] này nữa.”
37. Đức Thế Tôn đã giảng về điều ấy. Được hoan hỷ, các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã vô cùng thích thú với lời dạy của đức Thế Tôn. Hơn thế nữa, trong khi bài kinh này được thuyết giảng, tâm của các Tỳ-khưu nhóm năm vị đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
38. Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu vị A-la-hán.
Tụng phẩm thứ nhất.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, ở Bārāṇasī có người con trai gia đình danh giá tên Yasa, là con trai nhà đại phú, có vóc dáng mảnh mai. Chàng trai có ba tòa lâu đài: Một dành cho mùa lạnh, một dành cho mùa nóng, một dành cho mùa mưa. Vào bốn tháng mùa mưa, ở trong tòa lâu đài dành cho mùa mưa, trong lúc được phục vụ bởi các nữ công tấu nhạc, chàng không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài.
2. Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa là người được thừa hưởng, được sở hữu năm phần dục lạc,[9] trong lúc đang được phục vụ, chàng trai đã thiếp ngủ trước rồi đám người hầu cũng đã thiếp ngủ. Và cây đèn dầu được đốt trọn đêm.
3. Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thức dậy trước và đã nhìn thấy đám hầu thiếp của mình đang ngủ, cây đàn ở khuỷu tay của nàng nọ, cái trống con ở cổ của nàng kia, cái trống ở đùi của nàng khác, nàng nọ có [đầu tóc] xổ ra, nàng kia nhểu nước dãi, các nàng khác thì nói lảm nhảm, chàng nghĩ rằng bãi tha ma đã đến ở trong tầm tay. Sau khi nhìn thấy, chàng trai đã thấy rõ được điều bất lợi và đã lập tâm ở sự chán nản.
4. Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!”
5. Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã mang vào đôi hài bằng vàng ròng và đi đến cánh cửa lớn của dinh thự. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra [nghĩ rằng]: “Chớ có ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia, sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa.”
6. Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến cổng thành phố. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra [nghĩ rằng]: “Chớ có ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia, sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa.”
7. Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến Isipatana, chỗ vườn Nai. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi thức dậy trong đêm, vào lúc hừng sáng, đang đi kinh hành ở ngoài trời, đức Thế Tôn đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã rời đường kinh hành và ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, ở không xa đức Thế Tôn, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!”
8. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này:
– Này Yasa, việc này không chán nản, việc này không khổ sở. Này Yasa, hãy đến và ngồi xuống. Ta sẽ thuyết giảng giáo pháp cho ngươi.
Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa [nghĩ rằng]: “Nghe nói việc này không chán nản, việc này không khổ sở” nên mừng rỡ phấn chấn, rồi đã cởi ra đôi hài bằng vàng ròng và đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết pháp theo thứ lớp đến người con trai gia đình danh giá Yasa. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời; sự tai hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được người con trai gia đình danh giá Yasa có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người con trai gia đình danh giá Yasa: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
9. Sau đó, mẹ của người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi lên tòa lâu đài, trong khi không nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa, nên đã đi đến gặp người gia chủ đại phú, sau khi đến đã nói với người gia chủ đại phú điều này:
– Gia chủ ơi, không có nhìn thấy con trai ông là Yasa.
Khi ấy, người gia chủ đại phú đã phân công cho các sứ giả phi ngựa bốn phương, còn chính bản thân đã đi đến Isipatana, chỗ vườn Nai. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy dấu vết [in xuống đất] của đôi hài bằng vàng ròng, sau khi nhìn thấy đã đi theo chính dấu vết ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người gia chủ đại phú từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Hay là Ta nên thi triển thần thông để cho người gia chủ đại phú ngồi ở đây không thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây.” Rồi đức Thế Tôn đã thi triển thần thông như thế ấy.
10. Sau đó, người gia chủ đại phú đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa không?
– Này gia chủ, như thế thì ông hãy ngồi xuống đi. Có lẽ khi ông ngồi xuống ở đây, ông có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây.
11. Khi ấy, người gia chủ đại phú [nghĩ rằng]: “Nghe nói khi ta ngồi xuống ở chính nơi đây, ta sẽ nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây” nên mừng rỡ, phấn chấn, rồi đã đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Khi người gia chủ đại phú đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết pháp theo thứ lớp đến người gia chủ đại phú. ...(nt)... không còn cần sự trợ duyên của người khác, [người gia chủ đại phú] đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối [nghĩ rằng]: “Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng”; tương tợ như thế, pháp đã được đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch Ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo pháp và Hội chúng Tỳ-khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
Và ông ta đã trở thành vị nam cư sĩ đọc ba câu [nương nhờ][10] đầu tiên ở thế gian.
12. Sau đó, trong khi giáo pháp đang được giảng giải cho người cha thì người con trai gia đình danh giá Yasa, trong khi quán sát bản chất như đã được thấy, như đã được biết, tâm của vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Trong khi giáo pháp đang được giảng giải cho người cha thì người con trai gia đình danh giá Yasa, trong khi quán sát bản chất như đã được thấy, như đã được biết, tâm của vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Người con trai gia đình danh giá Yasa quả không thể nào quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia, hay là Ta nên thu hồi sự thi triển thần thông ấy?”
13. Sau đó, đức Thế Tôn đã thu hồi sự thi triển thần thông ấy. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi, sau khi nhìn thấy, đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này:
– Này Yasa yêu quý, mẹ của con đã phải than vãn và sầu muộn. Hãy đem lại cho mẹ cuộc sống.
14. Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngước nhìn đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người gia chủ đại phú điều này:
– Này gia chủ, ngươi nghĩ gì về việc ấy [là việc] người con trai gia đình danh giá Yasa đã thấy, đã biết được pháp bằng trí của vị Hữu học, bằng sự hiểu biết của vị Hữu học cũng giống ngươi vậy? Chàng trai ấy trong khi quán sát bản chất như đã được thấy, như đã được biết, tâm đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này gia chủ, có thể nào Yasa quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia hay không?
– Bạch Ngài, điều ấy không thể nào.
– Này gia chủ, người con trai gia đình danh giá Yasa quả đã thấy, đã biết được pháp bằng trí của vị Hữu học, bằng sự hiểu biết của vị Hữu học cũng giống ngươi vậy. Chàng trai ấy trong khi quán sát bản chất như đã được thấy, như đã được biết, tâm đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này gia chủ, Yasa không thể nào quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia.
15. – Bạch Ngài, thật là lợi ích cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Thật khéo thành tựu cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Như là việc tâm của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa thọ trai ngày mai, cùng với người con trai gia đình danh giá Yasa là Sa-môn hầu cận.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
16. Khi ấy, người gia chủ đại phú hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi người gia chủ đại phú ra đi không lâu, người con trai gia đình danh giá Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của Đại đức ấy.
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có bảy vị A-la-hán.
Dứt sự xuất gia của Yasa.
*****
1. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của người gia chủ đại phú cùng với Đại đức Yasa là Sa-môn hầu cận, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người mẹ và người vợ cũ của Đại đức Yasa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp theo thứ lớp đến các người nữ ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời; sự tai hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được các người nữ ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các người nữ ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các người nữ ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! ...(nt)... Bạch Ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo pháp và Hội chúng Tỳ-khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nữ cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
Và các người nữ ấy đã trở thành những nữ cư sĩ đọc ba câu đầu tiên ở thế gian.
2. Sau đó, khi đã tự tay làm hài lòng, toại ý đức Thế Tôn và Đại đức Yasa với thức ăn hảo hạng loại cứng, loại mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, người mẹ, người cha và người vợ cũ của Đại đức Yasa đã ngồi xuống một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi cho người mẹ, người cha và người vợ cũ của Đại đức Yasa bằng bài pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
3. Bốn người bạn tại gia của Đại đức Yasa [tên] Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārāṇasī đã nghe được rằng: “Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa và rời nhà xuất gia, sống không nhà.” Sau khi nghe, các người ấy đã khởi ý điều này: “Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia ấy không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa và rời nhà xuất gia, sống không nhà!” Các người ấy đã đi đến gặp Đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ Đại đức Yasa rồi đứng một bên. Khi ấy, Đại đức Yasa đã dẫn bốn người bạn tại gia ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, bốn người bạn tại gia này của con [tên] Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārāṇasī. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và giảng dạy cho những người này.
4. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời; sự tai hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã giảng dạy cho các vị Tỳ-khưu ấy bằng bài pháp thoại. Trong khi được giáo huấn, được giảng dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài pháp thoại, tâm của các vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có mười một vị A-la-hán.
Dứt sự xuất gia của bốn người bạn tại gia.
*****
1. Những người bạn tại gia của Đại đức Yasa có số lượng năm mươi [người] là những người con trai của các gia đình kỳ cựu và các gia đình kế tự trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa và rời nhà xuất gia, sống không nhà.” Sau khi nghe, các người ấy đã khởi ý điều này: “Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia ấy không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa và rời nhà xuất gia, sống không nhà!” Các người ấy đã đi đến gặp Đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ Đại đức Yasa rồi đứng một bên. Khi ấy, Đại đức Yasa đã dẫn các người bạn tại gia có số lượng là năm mươi [người] ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, những người bạn tại gia này của con có số lượng năm mươi [người] là những người con trai của các gia đình đầu tiên hoặc kế tục trong xứ sở. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và giảng dạy cho những người này.
2. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời; sự tai hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và sự lợi ích của việc xuất ly. ...(nt)... khổ, tập, diệt, đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã giảng dạy cho các vị Tỳ-khưu ấy bằng bài pháp thoại. Trong lúc được giáo huấn, được giảng dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài pháp thoại, tâm của các vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.
3. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các Tỳ-khưu, các ngươi cũng đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các Tỳ-khưu, hãy cất bước du hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một [đường]. Này các Tỳ-khưu, hãy thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Có những hạng người sanh lên bị ít ô nhiễm sẽ là những người hiểu được giáo pháp, [nhưng] do việc không nghe giáo pháp sẽ bị tha hóa. Này các Tỳ-khưu, Ta cũng sẽ đi đến ngôi làng của Senāni ở Uruvelā cho việc thuyết giảng giáo pháp.
4. Sau đó, Ma vương tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng những lời kệ này:
– Ngài đã bị trói buộc bởi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ngài đã bị trói buộc bởi sự trói buộc lớn lao. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta!
[Đức Thế Tôn đáp lại rằng:]
– Ta đã được thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ta đã được thoát khỏi sự trói buộc lớn lao. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi.
– Sự trói buộc này, có sự di chuyển ở khoảng không và hoạt động ở trong tâm. Ta sẽ trói buộc Ngài lại bằng vật ấy. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta!
– Các sắc, các thinh, các hương, các vị và các xúc là các niềm thích thú của tâm. Sự mong muốn của Ta ở điều ấy đã không còn. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi.
Khi ấy, Ma vương tội lỗi [nghĩ rằng]: “Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Dứt phần giảng về Ma vương là phần thứ mười một.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, [nghĩ rằng]: “Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ tu lên bậc trên.” Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỳ-khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc. Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hiện nay, các vị Tỳ-khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên [nghĩ rằng]: ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia và sẽ cho họ tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỳ-khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là Ta nên cho phép các vị Tỳ-khưu rằng: ‘Này các Tỳ-khưu, kể từ nay, ở trong mọi phương, ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’”
2. Sau đó, vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng Tỳ-khưu lại, đã thuyết pháp thoại, rồi đã bảo các vị Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, ở đây, trong lúc Ta thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hiện nay, các vị Tỳ-khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên [nghĩ rằng]: ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỳ-khưu, luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là Ta nên cho phép các vị Tỳ-khưu rằng: ‘Này các Tỳ-khưu, kể từ nay ở trong mọi phương, ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’”
3. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép “kể từ nay ở trong mọi phương, ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.” Và này các Tỳ-khưu, nên cho xuất gia như vầy, nên cho tu lên bậc trên như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị Tỳ-khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy:
Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ [Tôi xin quy y Phật].
Tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ [Tôi xin quy y Pháp].
Tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ [Tôi xin quy y Tăng].[11]
Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ.”
Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ này.
Dứt phần giảng về sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ là phần thứ mười hai.
*****
1. Sau đó, khi đã sống qua mùa mưa, đức Thế Tôn đã bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta có các sự tác ý đúng đắn, có các sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, đã đạt đến sự Giải thoát vô thượng, đã chứng ngộ sự Giải thoát vô thượng. Này các Tỳ-khưu, ngay cả các ngươi cũng có các sự tác ý đúng đắn, có các sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, [các ngươi] hãy đạt đến sự Giải thoát vô thượng, hãy chứng ngộ sự Giải thoát vô thượng.
2. Sau đó, Ma vương tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng bài kệ này:
– Ngài đã bị trói buộc bởi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ngài đã bị trói buộc bởi sự trói buộc của tử thần. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta!
[Đức Thế Tôn đáp lại rằng:]
– Ta đã được thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ta đã được thoát khỏi sự trói buộc của tử thần. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi.
Khi ấy, Ma vương tội lỗi [nghĩ rằng]: “Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
3. Sau đó, khi đã ngự tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi, du hành về phía Uruvelā. Khi ấy, đức Thế Tôn đã rời đường lộ đi đến khu rừng rậm nọ, sau khi đến đã đi sâu vào trong khu rừng rậm ấy và đã ngồi xuống ở gốc cây nọ.
4. Vào lúc bấy giờ, những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi [người] cùng với những người vợ đang du ngoạn ở trong khu rừng rậm ấy. Một người không có vợ. Cô gái điếm đã được dẫn đến cho nhu cầu của vị ấy. Rồi trong khi những người ấy đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi tẩu thoát.
5. Sau đó, những người bạn ấy trong lúc giúp đỡ bạn bè, trong lúc tìm kiếm người đàn bà ấy, trong khi lang thang ở khu rừng rậm ấy, đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy, đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có nhìn thấy người đàn bà không?
– Này các vương tử, các vị có chuyện gì với người đàn bà?
– Bạch Ngài, ở đây, chúng tôi là những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi [người] đã cùng với những người vợ du ngoạn ở trong khu rừng rậm này. Một người không có vợ. Cô gái điếm đã được dẫn đến cho nhu cầu của vị ấy. Bạch Ngài, rồi trong khi chúng tôi đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi tẩu thoát. Bạch Ngài, là những người bạn trong lúc giúp đỡ bạn bè, trong lúc tìm kiếm người đàn bà ấy, chúng tôi đây lang thang đi đến khu rừng rậm này.
6. – Này các vương tử, các vị nghĩ thế nào về việc các vị nên tìm kiếm người đàn bà và việc các vị nên tìm kiếm lấy chính mình, đối với các vị việc nào quan trọng hơn?
– Bạch Ngài, đối với chúng tôi, việc chúng tôi nên tìm kiếm lấy chính mình là việc quan trọng hơn.
– Này các vương tử, chính vì việc ấy, các vị hãy ngồi xuống, Ta sẽ thuyết giảng giáo pháp cho các vị.
– Bạch Ngài, xin vâng.
Rồi những người bạn thuộc nhóm các vương tử ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
7. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp theo thứ lớp đến các vị ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời; sự tai hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được các vị ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các vị ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
Dứt câu chuyện về những người bạn thuộc nhóm các vương tử.
Tụng phẩm thứ nhì.
*****
1. Sau đó, trong khi tuần tự du hành, đức Thế Tôn đã ngự đến Uruvelā. Vào lúc bấy giờ, có ba vị đạo sĩ bện tóc đang cư trú ở Uruvelā là Uruvelakassapa, Nadīkassapa và Gayākassapa.
Trong số các vị ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của ba trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của hai trăm đạo sĩ bện tóc.
2. Khi ấy, đức Thế Tôn đã đi đến khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.
– Này vị Đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. [Tuy nhiên] ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại Ngài được.
Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.
– Này vị Đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. [Tuy nhiên] ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại Ngài được.
Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.
– Này vị Đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. [Tuy nhiên] ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại Ngài được.
– Biết đâu nó có thể không hại Ta. Này Kassapa, ngươi hãy cho phép [Ta cư ngụ] nhà thờ lửa đi.
– Này vị Đại Sa-môn, Ngài hãy cư ngụ một cách thoải mái.
Sau đó, đức Thế Tôn đã đi vào nhà thờ lửa, sắp đặt tấm thảm trải bằng cỏ rồi ngồi xuống, xếp [chân] thế kiết-già, giữ thân thẳng, tập trung niệm ở phía trước.
3. Khi ấy, con rồng ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đi vào, sau khi nhìn thấy trở nên bực bội nên đã phun khói. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Có lẽ Ta không nên làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà chỉ nên dùng lửa [của Ta] làm cho lửa [của nó] bị kiệt quệ thôi.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thi triển phép thần thông có hình thức như thế và đã phun khói. Khi ấy, con rồng không chịu nổi sự khổ sở nên đã phun ra lửa. Đức Thế Tôn cũng đã nhập thiền đề mục lửa và đã phun ra lửa. Trong khi cả hai đều có trạng thái rực sáng, ngôi nhà thờ lửa như là bị đốt cháy, bị phát cháy, có trạng thái rực sáng. Khi ấy, những đạo sĩ bện tóc ấy đã vây xung quanh nhà thờ lửa và nói như vầy:
– Quả thật vị Đại Sa-môn có vóc dáng xinh đẹp đã bị con rồng hãm hại!
Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đức Thế Tôn đã không làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà đã dùng lửa [của Ngài] làm cho lửa [của nó] bị kiệt quệ, rồi bỏ vào trong bình bát và đưa cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa xem [nói rằng]:
– Này Kassapa, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị lửa [của Ta] làm cho kiệt quệ.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy đã dùng lửa [của vị ấy] làm cho lửa của con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp bị kiệt quệ, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
4. Ở Nerañjarā, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rằng:
– Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì đêm nay hãy để Ta ngụ ở nơi thờ phụng lửa.
– Này vị Đại Sa-môn, quả chẳng có trở ngại cho tôi. Chỉ vì muốn được yên tâm mà tôi ngăn cản Ngài. Nơi đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại Ngài được.
– Biết đâu nó có thể không hại Ta. Này Kassapa, ngươi hãy cho phép [Ta cư ngụ] nhà thờ lửa đi.
Sau khi biết được điều ấy là “đã được cho phép”, Ngài đã đi vào, không khiếp đảm, đã lìa nỗi sợ hãi.
Thấy vị ẩn sĩ đã đi vào, con rồng chúa có ý bực bội, đã phun khói. Vị Chúa của loài người, với tâm hòa dịu, với ý cao cả, tại nơi đó cũng đã phun khói.
Và không nén được nỗi bực tức, con rồng chúa đã phun lửa như là cơn hỏa hoạn. Vị Chúa của loài người, thiện xảo về các đề mục lửa, tại nơi đó cũng đã phun lửa.
Trong khi cả hai đều có trạng thái rực sáng, các đạo sĩ bện tóc đã vây xung quanh nhà thờ lửa và nói rằng:
– Đương nhiên là vị Đại Sa-môn có vóc dáng xinh đẹp bị con rồng hãm hại!
Rồi đêm đã qua đi, các ngọn lửa của rồng chúa chẳng còn, còn các ngọn lửa của vị có thần lực vẫn tồn tại và có nhiều màu sắc.
Các ngọn lửa nhiều màu sắc từ cơ thể của vị Aṅgīrasa có các màu sắc trong suốt, xanh, đỏ, tím, vàng.
Sau khi đặt con rồng vào bình bát, Ngài đã đưa ra cho vị Bà-la-môn xem:
– Này Bà-la-môn, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị kiệt quệ vì ngọn lửa [của Ta].[12]
5. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa vô cùng hoan hỷ với sự kỳ diệu thần thông này của đức Thế Tôn nên đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, hãy cư ngụ ngay tại đây, tôi có thức ăn trường kỳ cho Ngài.
Điều kỳ diệu thứ nhất.
*****
6. Sau đó, đức Thế Tôn đã cư ngụ trong khu rừng rậm nọ, không xa khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa. Khi ấy, vào lúc đêm khuya, bốn vị Đại Thiên vương có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở bốn phương, giống như là những khối lửa khổng lồ.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị Đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya, những ai có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm rồi đã đi đến gặp Ngài, sau khi đến đã đảnh lễ Ngài rồi đứng ở bốn phương, giống như là những khối lửa khổng lồ vậy?
– Này Kassapa, các vị ấy là bốn vị Đại Thiên vương đã đi đến gặp Ta để nghe pháp.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả bốn vị Đại Thiên vương còn đi đến gặp để nghe pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ nhì.
*****
7. Sau đó, trong lúc đêm khuya, vị chúa của chư thiên Sakka có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên, giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị Đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya, người nào có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm rồi đã đi đến gặp Ngài, sau khi đến đã đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên, giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa vậy?
– Này Kassapa, vị ấy là chúa của chư thiên Sakka đã đi đến gặp Ta để nghe pháp.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả chúa của chư thiên Sakka còn đi đến gặp để nghe pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ ba.
*****
8. Sau đó, trong lúc đêm khuya, vị Phạm thiên Sahampati có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên, giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa.
9. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị Đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya, người nào có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm rồi đã đi đến gặp Ngài, sau khi đến đã đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên, giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa vậy?
– Này Kassapa, vị ấy là Phạm thiên Sahampati đã đi đến gặp Ta để nghe pháp.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị Phạm thiên Sahampati còn đi đến gặp để nghe pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ tư.
*****
10. Vào lúc bấy giờ, buổi đại lễ cúng tế của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đến. Và toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha đem lại nhiều thức ăn loại cứng, loại mềm với ý định tham dự. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Giờ đây, buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha sẽ đem lại nhiều thức ăn loại cứng, loại mềm và tham dự. Nếu vị Đại Sa-môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và sự trọng vọng sẽ tăng trưởng cho vị Đại Sa-môn, còn lợi lộc và sự trọng vọng của ta sẽ bị giảm đi; vậy thì vị Đại Sa-môn không thể đi đến vào ngày mai.”
11. Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, từ nơi ấy đã đem lại đồ ăn khất thực và đã thọ thực ở hồ Anotatta, rồi đã nghỉ trưa ở ngay tại nơi ấy.
12. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị Đại Sa-môn, việc gì khiến Ngài đã không đi đến ngày hôm qua? Tuy nhiên, chúng tôi cũng có nhớ đến Ngài rằng: “Việc gì khiến vị Đại Sa-môn không đi đến?” Phần chia về thức ăn loại cứng và loại mềm đã được để dành cho Ngài.
13. – Này Kassapa, thế không phải ngươi đã khởi ý điều này: “Giờ đây, buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha sẽ đem lại nhiều thức ăn loại cứng, loại mềm và tham dự. Nếu vị Đại Sa-môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và sự trọng vọng sẽ tăng trưởng cho vị Đại Sa-môn, còn lợi lộc và sự trọng vọng của ta sẽ bị giảm đi; vậy thì vị Đại Sa-môn không thể đi đến vào ngày mai.”
14. Này Kassapa, Ta đây dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ngươi nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, từ nơi ấy, đã đem lại đồ ăn khất thực và đã thọ thực ở hồ Anotatta, rồi đã nghỉ trưa ở ngay tại nơi ấy.
15. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn biết được tâm bằng tâm, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ năm.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, có vải paṃsukūla[13] đã phát sanh đến đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể giặt vải paṃsukūla ở đâu?” Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước, rồi nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải paṃsukūla ở đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể nhồi vải paṃsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại tảng đá lớn rồi nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải paṃsukūla ở đây.
Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể nắm vào vật gì và bước lên?” Khi ấy, vị thiên thần ngụ ở cây Kakudha dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã uốn cong cành cây xuống [nói rằng]:
– Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.
Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể phơi khô vải paṃsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại tảng đá lớn, rồi nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải paṃsukūla ở đây.
2. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị Đại Sa-môn, có phải trước kia, cái hồ nước này không có ở đây, giờ cái hồ nước này lại có ở đây? Trước kia, hòn đá này không được đem lại, do ai mà hòn đá này đã được đem lại? Trước kia, cành của cây Kakudha này không bị uốn cong xuống, giờ cành cây này đây đã bị uốn cong xuống?
3. – Này Kassapa, trường hợp này là vải paṃsukūla đã được phát sanh đến Ta. Ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể giặt vải paṃsukūla ở đâu?” Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của Ta nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi nói với Ta điều này: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải paṃsukūla ở đây.” Cái hồ này đây đã được đào bằng bàn tay bởi hạng không phải là người. Này Kassapa, Ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể nhồi vải paṃsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của Ta nên đã mang lại tảng đá lớn: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải paṃsukūla ở đây.” Hòn đá này đây đã được đem lại bởi hạng không phải là người. Này Kassapa, Ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể nắm vào vật gì và bước lên?” Khi ấy, vị thiên thần ngụ ở cây Kakudha dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của Ta nên đã uốn cong cành cây xuống: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.” Cây Kakudha này đây là vật để tay nắm vào. Này Kassapa, Ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy Ta có thể phơi khô vải paṃsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của Ta nên đã mang lại tảng đá lớn: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải paṃsukūla ở đây.” Hòn đá này đây đã được đem lại bởi hạng không phải là người.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị chúa của chư thiên Sakka còn phải phục vụ, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
4. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.
– Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi Ta đến.
Sau khi bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, Ngài đã hái trái cây từ cây Jambu,[14] do cây Jambu mà Jambudīpa[15] được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy, đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, Ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước Ngài, vậy mà Ngài đây đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.
– Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, Ta đã hái trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, trái cây Jambu này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm, đạt được mùi vị, nếu ngươi thích thì hãy ăn đi.
– Này vị Đại Sa-môn, thôi đi. Chính Ngài đã mang nó lại thì chính Ngài hãy ăn nó.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi trước, vị ấy đã hái trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
5. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.
– Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi Ta đến.
Sau khi bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, Ngài đã hái trái xoài không xa cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, ...(nt)... trái Āmalakī không xa cây Jambu, ...(nt)... trái Harītakī không xa cây Jambu, ...(nt)... đã đi đến cõi trời Đạo-lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, Ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước Ngài vậy mà Ngài đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.
– Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, Ta đã đi đến cõi trời Đạo-lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, bông hoa của cây san hô này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm.
Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi trước, vị ấy đã đi đến cõi trời Đạo-lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
6. Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy có ước muốn thờ phụng lửa, không thể chẻ nhỏ các thanh củi được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị Đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào chẻ nhỏ các thanh củi được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, hãy khiến các thanh củi được chẻ nhỏ.
– Này vị Đại Sa-môn, hãy khiến chúng được chẻ nhỏ.
Ngay lập tức, năm trăm thanh củi đã được chẻ nhỏ. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các thanh củi cũng không chẻ nhỏ được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
7. Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy có ước muốn thờ phụng lửa, không thể đốt lên ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị Đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào đốt lên ngọn lửa được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, hãy khiến các ngọn lửa được đốt lên.
– Này vị Đại Sa-môn, hãy khiến chúng được đốt lên.
Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được đốt lên. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các ngọn lửa cũng không đốt lên được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
8. Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy, sau khi thờ phụng lửa, không thể dập tắt ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị Đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào dập tắt các ngọn lửa được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, hãy khiến các ngọn lửa được dập tắt.
– Này vị Đại Sa-môn, hãy khiến chúng được dập tắt.
Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được dập tắt. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các ngọn lửa cũng không dập tắt được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
9. Vào lúc bấy giờ, trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo, vào lúc tuyết rơi, các vị đạo sĩ bện tóc ấy hụp xuống và trồi lên trong dòng sông Nerañjarā, rồi lại thực hiện những hành động trồi lên hụp xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã làm hiện ra các chảo lửa có số lượng năm trăm cái ở chỗ các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã lội lên và sưởi ấm. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị Đại Sa-môn cho nên các chảo lửa này đã được hiện ra.” Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn làm hiện ra các chảo lửa nhiều đến mức này, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
10. Vào lúc bấy giờ, có đám mây đen lớn sái mùa đã đổ mưa tạo thành trận lũ lụt lớn. Trong khu vực nào đức Thế Tôn cư ngụ thì nước không tràn đến khu vực ấy. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Hay là Ta nên đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khoảng giữa, trên mặt đất có phủ lớp đất bụi?” Sau đó, đức Thế Tôn đã đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khoảng giữa, trên mặt đất có phủ lớp đất bụi. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa [nghĩ rằng]: “Chỉ mong sao vị Đại Sa-môn không bị nước cuốn trôi đi!”, rồi đã cùng nhiều vị đạo sĩ bện tóc đi thuyền đến khu vực đức Thế Tôn cư ngụ. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi kinh hành ở khoảng giữa, trên mặt đất có phủ lớp đất bụi sau khi đã đẩy nước ra xung quanh, sau khi nhìn thấy, đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Này vị Đại Sa-môn, Ngài có đây không?
– Này Kassapa, có Ta đây.
Đức Thế Tôn đã bay lên không trung và đứng xuống ở chiếc thuyền. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả nước [lũ] cũng không làm gì được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
11. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Đã lâu nay, kẻ rồ dại này chỉ khởi ý rằng: ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.’ Hay là Ta nên làm cho vị đạo sĩ bện tóc này phải nao núng? ” Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, ngươi chẳng phải là A-la-hán và cũng chẳng đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Thậm chí ngươi cũng không có đường lối thực hành để ngươi có thể trở thành A-la-hán hoặc đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán.
12. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã quỳ xuống, đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?
– Này Kassapa, ngươi là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Ngươi hãy thông báo đến các vị ấy. Các vị ấy sẽ làm theo cách các vị ấy suy tính. Các vị suy tính như thế nào thì các vị sẽ làm như thế ấy.
13. Sau đó, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp các đạo sĩ bện tóc ấy, sau khi đến đã nói với các đạo sĩ bện tóc ấy điều này:
– Này các ông, ta muốn thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn. Các ông suy tính như thế nào thì các ông hãy làm như thế ấy.
– Ngài ơi, chúng tôi có niềm tin với vị Đại Sa-môn đã lâu nay. Nếu ngài thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn, hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn.
14. Sau đó, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống, đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
15. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa đã nhìn thấy các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa ở dòng nước đang trôi chảy, sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho anh trai của ta!”, rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc [nói rằng]: “Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai của ta [thế nào].” Còn bản thân cùng với ba trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp Đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với Đại đức Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?
– Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.
Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống, đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
16. Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa đã nhìn thấy các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa ở dòng nước đang trôi chảy, sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho các anh trai của ta!” rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc [nói rằng]: “Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai của ta [thế nào].” Còn bản thân cùng với hai trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp Đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với Đại đức Uruvelakassapa điều này:
– Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?
– Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.
17. Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống, đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
Do nguyện lực của đức Thế Tôn, năm trăm thanh củi đã không chẻ ra được rồi đã được chẻ ra, các ngọn lửa đã không đốt lên được rồi đã được đốt lên, đã không dập tắt được rồi đã được dập tắt, năm trăm chảo lửa đã được làm hiện ra. Theo cách thức ấy, có ba ngàn năm trăm điều kỳ diệu.
18. Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi, du hành về phía đỉnh Gayā cùng với đại chúng Tỳ-khưu gồm có một ngàn vị Tỳ-khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Tại nơi đó, ở Gayā, đức Thế Tôn ngự tại đỉnh Gayā cùng với một ngàn vị Tỳ-khưu. Tại nơi đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, tất cả đều bị cháy rực. Và này các Tỳ-khưu, cái gì là tất cả đều bị cháy rực? Này các Tỳ-khưu, mắt bị cháy rực, các sắc bị cháy rực, sự nhận thức của mắt bị cháy rực, sự tiếp xúc của mắt bị cháy rực, tức là sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: “Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già, bởi chết, bởi những nỗi buồn rầu, bởi những điều ta thán, bởi những nỗi khổ đau, bởi những sự bất mãn, bởi những điều thất vọng.”
Tai bị cháy rực, các âm thanh bị cháy rực, ...(nt)... Mũi bị cháy rực, các mùi bị cháy rực, ...(nt)... Lưỡi bị cháy rực, các vị nếm bị cháy rực, ...(nt)... Thân bị cháy rực, các sự xúc chạm bị cháy rực, ...(nt)… Ý bị cháy rực, các pháp bị cháy rực, sự nhận thức của ý bị cháy rực, sự tiếp xúc của ý bị cháy rực, tức là sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: “Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già, bởi chết, bởi những nỗi buồn rầu, bởi những điều ta thán, bởi những nỗi khổ đau, bởi những sự bất mãn, bởi những điều thất vọng.” Này các Tỳ-khưu, trong khi nhìn thấy như thế, vị Thánh đệ tử có sự học hỏi không còn hứng thú đến mắt, không còn hứng thú đến các sắc, không còn hứng thú đến sự nhận thức của mắt, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của mắt, tức là không còn hứng thú đến sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc.
[Vị ấy] không còn hứng thú đến tai, không còn hứng thú đến các âm thanh, ...(nt)... không còn hứng thú đến mũi, không còn hứng thú đến các mùi, ...(nt)... không còn hứng thú đến lưỡi, không còn hứng thú đến các vị nếm, ...(nt)... không còn hứng thú đến thân, không còn hứng thú đến các sự xúc chạm, ...(nt)... không còn hứng thú đến ý, không còn hứng thú đến các pháp, không còn hứng thú đến sự nhận thức của ý, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của ý, tức là không còn hứng thú đến sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc; trong khi không còn hứng thú, vị ấy không còn tham ái; do không còn tham ái, vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: “Đã được giải thoát.” Vị ấy biết được rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn gì khác [phải làm] đối với bản thể [A-la-hán] này nữa.”
19. Và trong khi bài kinh này được thuyết giảng, tâm của một ngàn vị Tỳ-khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Dứt phần giảng về “Bị cháy rực.”
Dứt tụng phẩm “Sự kỳ diệu ở Uruvelā” là thứ ba.
*****
1. Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi, du hành về phía thành Rājagaha cùng với đại chúng Tỳ-khưu gồm có một ngàn vị Tỳ-khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Trong khi tuần tự du hành, Ngài đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó, ở thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại khu rừng Laṭṭhi, nơi điện thờ Suppatiṭṭha. Đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe được rằng: “Chắc chắn là Ngài Sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, đã ngự đến thành Rājagaha và trú ở thành Rājagaha, tại khu rừng Laṭṭhi, nơi điện thờ Suppatiṭṭha. Tiếng tăm tốt đẹp về Ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, với thắng trí của mình, sau khi chứng ngộ đã công bố về thế gian này, tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy!”
2. Sau đó, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha được tháp tùng bởi một trăm hai mươi ngàn[16] Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy, một số đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi ngồi xuống một bên, một số đã chắp tay cúi chào đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số đã xưng tên họ trước đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số có thái độ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
3. Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: “Vị Đại Sa-môn thực hành Phạm hạnh theo Uruvelakassapa, hay là Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn?” Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã nói với Đại đức Uruvelakassapa bằng bài kệ này:
4. – Kẻ trú ở Uruvelā, người giáo huấn các đạo sĩ khổ hạnh, sau khi thấy điều gì, mà đã từ bỏ ngọn lửa? Này Kassapa, Ta hỏi ngươi điều này: “Tại sao việc thờ lửa của ngươi bị từ bỏ?”
– Việc cúng tế đề cập đến các hình ảnh, các âm thanh, các mùi vị, dục lạc và đàn bà. Sau khi nhận biết rằng “việc ấy là ô nhiễm” trong các mầm mống tái sanh, vì thế con đã không thích thú các việc hy sinh [hay] các việc cúng tế.
[Đức Thế Tôn nói với Kassapa:]
– Và ở đây, tâm của ngươi đã không thích thú đối với các hình ảnh, các âm thanh và các mùi vị, như thế thì giờ đây, ở thế giới nhân thiên [cái gì] là được tâm thích thú? Này Kassapa, hãy nói với Ta về điều ấy.
– Sau khi đã nhìn thấy đạo lộ thanh tịnh, không mầm mống tái sanh, không có gì [về tham ái], không bị trói buộc trong dục lạc và hiện hữu, không còn những thứ khác [sanh, lão, tử, v.v...], không thể đạt đến bằng đường lối nào khác, vì thế con đã không thích thú các việc hy sinh [hay] các việc cúng tế.
5. Sau đó, Đại đức Uruvelakassapa đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo sư của con, con là người đệ tử. Bạch Ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo sư của con, con là người đệ tử.
Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: “Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn.” Sau đó, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã thuyết pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời; sự tai hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy có đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đứng đầu: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Mười ngàn người đã tuyên bố bản thân là cư sĩ.
6. Sau đó, khi đã thấy được pháp, đã thành tựu được pháp, đã hiểu được pháp, đã thấm nhuần pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào giáo pháp của bậc Đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, trẫm đã có năm điều ước nguyện, giờ đây các điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. Bạch Ngài, trước đây, khi còn là hoàng tử, trẫm đã khởi ý điều này: “Ước gì họ tấn phong ta làm vua!” Bạch Ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhất của trẫm; giờ đây, điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. “Ước gì bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đi vào vương quốc của ta đây!” Bạch Ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhì của trẫm; giờ đây, điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. “Ước gì ta được tỏ lòng tôn kính đến đức Thế Tôn ấy!” Bạch Ngài, đó là điều ước nguyện thứ ba của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. “Ước gì đức Thế Tôn ấy thuyết giảng giáo pháp cho ta!” Bạch Ngài, đó là điều ước nguyện thứ tư của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. “Ước gì ta có thể hiểu được giáo pháp của đức Thế Tôn ấy!” Bạch Ngài, đó là điều ước nguyện thứ năm của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. Bạch Ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, trẫm đã có năm điều ước nguyện này; giờ đây các điều ấy đã được thành tựu cho trẫm.
7. Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối [nghĩ rằng]: “Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng”; tương tợ như thế, pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch Ngài, trẫm đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo pháp và Hội chúng Tỳ-khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận trẫm là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời trẫm về bữa thọ trai vào ngày mai cùng với hội chúng Tỳ-khưu.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
8. Khi ấy, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh rồi ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho người chuẩn bị thức ăn hảo hạng loại cứng, loại mềm rồi sai người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: “Bạch Ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha cùng với đại chúng Tỳ-khưu gồm có một ngàn vị Tỳ-khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Vào lúc bấy giờ, chúa của chư thiên, Sakka đã biến thành hình dáng của người thanh niên đi phía trước hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu, ngâm nga những lời kệ này:
9. “Vị đã tự rèn luyện, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc [giờ] đã được rèn luyện, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Vị đã được thanh tịnh, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc [giờ] đã được thanh tịnh, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Vị đã được tự do, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc [giờ] đã được tự do, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Vị đã tự vượt qua, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc [giờ] đã được vượt qua, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Đấng Thập Trú,[17] Thập Lực, bậc thông hiểu mười pháp[18] và đã thành đạt mười điều,[19] đức Thế Tôn ấy được tháp tùng bởi một ngàn vị, đã đi vào thành Rājagaha.”
Dân chúng sau khi nhìn thấy chúa của chư thiên, Sakka đã nói như vầy: “Chàng thanh niên trẻ này thật đẹp trai! Chàng thanh niên trẻ này thật duyên dáng! Chàng thanh niên trẻ này thật đáng tin! Chàng thanh niên trẻ này là thuộc về ai vậy?” Khi được nói như thế, chúa của chư thiên, Sakka đã nói với đám người ấy bằng bài kệ này:
“Vị nào là bậc trí tuệ, đã được rèn luyện về mọi mặt, là vị trong sạch, không có đối thủ, là bậc A-la-hán, đấng Thiện Thệ ở thế gian, ta là người phục vụ cho vị ấy.”
10. Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến tư dinh của đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỳ-khưu. Khi ấy, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng, loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, đức vua đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với Ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến mỗi khi có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, gió bị hạn chế, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh.” Rồi đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: “Khu vườn Veḷuvana này của chúng ta là không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến mỗi khi có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, gió bị hạn chế, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh, hay là ta nên dâng khu vườn Veḷuvana đến hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu?”
11. Sau đó, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cầm lấy bình nước làm bằng vàng rưới nước lên đức Thế Tôn [nói rằng]: “Bạch Ngài, trẫm dâng khu vườn Veḷuvana này đến hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh khu vườn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi cho đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng: “Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép [thọ nhận] khu vườn.”
12. Vào lúc bấy giờ, vị du sĩ Sañjaya cư trú tại thành Rājagaha cùng với tập thể du sĩ đông đảo gồm có hai trăm năm mươi vị du sĩ. Vào lúc bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna thực hành Phạm hạnh theo du sĩ Sañjaya. Họ đã giao ước với nhau rằng: “Người nào chứng đạt sự bất tử trước phải thông báo cho vị kia hay.” Khi ấy vào buổi sáng, Đại đức Assaji đã mặc y, cầm y bát đi vào thành Rājagaha để khất thực. Vị ấy có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được sự ngưỡng mộ khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi.
13. Du sĩ Sāriputta đã nhìn thấy Đại đức Assaji là vị có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được sự ngưỡng mộ khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi, đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Đây chính là vị Tỳ-khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian, hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị Tỳ-khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?’ hoặc là ‘Ai là thầy của Đại đức?’ hoặc là ‘Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’”
14. Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã khởi ý điều này: “Không phải lúc để hỏi vị Tỳ-khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực. Hay là ta nên đi sát theo sau vị Tỳ-khưu này là vị biết đạo lộ đang được học tập bởi những kẻ mong cầu sự lợi ích?” Sau đó, khi đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, Đại đức Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã đi đến gần Đại đức Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với Đại đức Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, du sĩ Sāriputta đã nói với Đại đức Assaji điều này: “Thưa Đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của Đại đức? Đại đức ưa thích pháp của vị nào?”
15. – Này đạo hữu, có vị Đại Sa-môn con trai dòng Sakya, từ dòng họ Sakya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là Đạo sư của ta và ta ưa thích pháp của đức Thế Tôn ấy.
– Vị Đạo sư của Đại đức đã thuyết về điều gì? Đã giảng về điều gì?
– Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng giáo pháp một cách chi tiết cho đạo hữu được; tuy nhiên, ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.
Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã nói với Đại đức Assaji điều này:
– Thưa Đại đức, hãy là vậy đi. Xin hãy nói ít hoặc nhiều, xin hãy giảng thuần ý nghĩa cho tôi. Tôi chỉ cần ý nghĩa thôi, ngài nói nhiều từ làm chi?
Khi ấy, Đại đức Assaji đã nói với du sĩ Sāriputta lời dạy này thuộc về giáo pháp:
“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
Sau đó, khi đã nghe được lời dạy thuộc về giáo pháp này thì pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Sāriputta: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
“Đây chính là giáo pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi mà đã thấu triệt được Niết-bàn không sầu muộn [là pháp] đã không được nhìn thấy, đã trôi qua hàng vạn kiếp.”
16. Sau đó, du sĩ Sāriputta đã đi đến gặp du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna đã nhìn thấy du sĩ Sāriputta từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với du sĩ Sāriputta điều này:
– Này bạn, các giác quan của bạn thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Này bạn, chắc hẳn là bạn đã chứng đạt sự bất tử?
– Này bạn, đúng vậy. Tôi đã chứng đạt sự bất tử.
– Này bạn, bạn đã chứng đạt sự bất tử bằng cách như thế nào?
– Này bạn, ở đây, tôi đã nhìn thấy vị Tỳ-khưu Assaji là vị có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được sự ngưỡng mộ khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi, đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Đây chính là vị Tỳ-khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian, hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị Tỳ-khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?’ hoặc là ‘Ai là thầy của Đại đức?’ hoặc là ‘Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’” Này bạn, khi ấy, tôi đây đã khởi ý điều này: “Không phải lúc để hỏi vị Tỳ-khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị Tỳ-khưu này là vị biết đạo lộ đang được học tập bởi những kẻ mong cầu sự lợi ích?”
17. Này bạn, sau khi đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, vị Tỳ-khưu Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Này bạn, khi ấy, tôi đã đi đến gần vị Tỳ-khưu Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với vị Tỳ-khưu Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng một bên. Này bạn, khi đã đứng một bên, tôi đã nói với vị Tỳ-khưu Assaji điều này: “Thưa Đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của Đại đức? Đại đức ưa thích pháp của vị nào?”
“Này đạo hữu, có vị Đại Sa-môn con trai dòng Sakya, từ dòng họ Sakya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là Đạo sư của ta và ta ưa thích pháp của đức Thế Tôn ấy.”
“Vị Đạo sư của Đại đức đã thuyết về điều gì? Đã giảng về điều gì?”
“Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng giáo pháp một cách chi tiết cho đạo hữu được; tuy nhiên, ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.”
“Xin hãy nói ít hoặc nhiều, xin hãy giảng thuần ý nghĩa cho tôi. Tôi chỉ cần ý nghĩa thôi, ngài nói nhiều từ làm chi?”
Này bạn, khi ấy, vị Tỳ-khưu Assaji đã nói với tôi lời dạy khái quát về giáo pháp:
“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
Sau đó, khi đã nghe được lời dạy khái quát này về giáo pháp thì pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Moggallāna: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
“Đây chính là giáo pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi mà đã thấu triệt được Niết-bàn không sầu muộn [là pháp] đã không được nhìn thấy, đã trôi qua hàng vạn kiếp.”
18. Sau đó, du sĩ Moggallāna đã nói với du sĩ Sāriputta điều này:
– Này bạn, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của chúng ta.
– Này bạn, hai trăm năm mươi du sĩ này sống ở đây đang nương tựa vào chúng ta và đang trông nom chúng ta, chúng ta hãy thông báo đến các vị ấy, các vị suy tính như thế nào thì các vị sẽ làm như thế ấy.
19. Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp các vị du sĩ ấy, sau khi đến đã nói với các vị du sĩ ấy điều này:
– Này các đạo hữu, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của chúng tôi.
– Chúng tôi sống ở đây nương tựa vào các Đại đức và đang trông nom các Đại đức, nếu các Đại đức sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị Đại Sa-môn.
Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp du sĩ Sañjaya, sau khi đến đã nói với du sĩ Sañjaya điều này:
– Này Đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của chúng tôi.
– Này các Đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.
Đến lần thứ nhì, ...(nt)... Đến lần thứ ba, Sāriputta và Moggallāna đã nói với du sĩ Sañjaya điều này:
– Này Đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của chúng tôi.
– Này các Đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.
20. Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đưa hai trăm năm mươi du sĩ ấy đi đến Veḷuvana. Về phần du sĩ Sañjaya, ngay tại chỗ ấy máu nóng đã ứa ra từ miệng.
Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Sāriputta và Moggallāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy, đã bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, họ là hai người bạn, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ trở thành một cặp đệ tử của Ta, một cặp [đệ tử] xuất sắc, đứng đầu.
Khi hai vị có lãnh vực trí tuệ thâm sâu, [đã chứng] Niết-bàn vô thượng, đã được giải thoát, còn chưa đến được Veḷuvana, bậc Đạo sư đã nói với các vị [Tỳ-khưu] ấy rằng: “Họ là hai người bạn, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ trở thành một cặp đệ tử của Ta, một cặp [đệ tử] xuất sắc, đứng đầu.”
21. Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu đảnh lễ ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
– Này các Tỳ-khưu, hãy đến! Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.
22. Vào lúc bấy giờ, những người con trai gia đình danh giá ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm thực hành Phạm hạnh theo đức Thế Tôn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Sa-môn Gotama đã tạo ra khuynh hướng không con cái, Sa-môn Gotama đã gây nên cảnh vợ không chồng, Sa-môn Gotama đã gây nên sự đổ vỡ của các gia đình. Hiện nay, cùng với ông ta, một ngàn vị đạo sĩ bện tóc đã xuất gia, hai trăm năm mươi du sĩ này của Sañjaya đã xuất gia, và những người con trai gia đình danh giá này ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm đang thực hành Phạm hạnh theo Sa-môn Gotama.” Hơn nữa, khi gặp các vị Tỳ-khưu họ đã quở trách bằng bài kệ này:
“Quả là vị Đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ, Sañjaya giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”
23. Các Tỳ-khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, tiếng đồn đãi ấy sẽ không tồn tại lâu, sẽ tồn tại chỉ được bảy ngày, khi trải qua bảy ngày thì sẽ biến mất. Này các Tỳ-khưu, chính vì việc ấy, những người nào quở trách các ngươi bằng bài kệ này:
“Quả là vị Đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ, Sañjaya giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”
Các ngươi hãy quở trách lại họ bằng bài kệ này:
“Đúng vậy, các bậc Đại Hùng, các đức Như Lai dẫn dắt bằng Chánh pháp. Những người có sự nhận thức thì có điều ganh tị gì với những vị đang dẫn đi bằng Chánh pháp?”
Vào lúc bấy giờ, dân chúng khi gặp các vị Tỳ-khưu đã quở trách bằng bài kệ này:
“Quả là vị Đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ, Sañjaya giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”
Các vị Tỳ-khưu đã quở trách lại những người ấy bằng bài kệ này:
“Đúng vậy, các bậc Đại Hùng, các đức Như Lai dẫn dắt bằng Chánh pháp. Những người có sự nhận thức thì có điều ganh tị gì với những vị đang dẫn đi bằng Chánh pháp?”
24. Dân chúng nghĩ rằng: “Nghe nói các Sa-môn Thích tử dẫn dắt bằng Chánh pháp không phải bằng phi Pháp.” Tiếng đồn ấy đã tồn tại chỉ có bảy ngày, sau khi trải qua bảy ngày, đã biến mất.
Dứt sự xuất gia của Sāriputta và Moggallāna.
Dứt tụng phẩm thứ tư.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu không có thầy tế độ, trong khi không được giáo huấn và không được giảng dạy nên mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống; các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực; các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.
2. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống; các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực; các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”
3. Các Tỳ-khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các Tỳ-khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các vị Tỳ-khưu lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống; các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực; các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn vậy?” Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
4. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng Tỳ-khưu lại và đã hỏi các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, nghe nói các Tỳ-khưu mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống; các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực; các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn, có đúng không vậy?
5. – Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
– Này các Tỳ-khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các Tỳ-khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị; các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống; các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực; các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn? Này các Tỳ-khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các Tỳ-khưu, hơn nữa, chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi [niềm tin] của một số người đã có đức tin.
6.[20] Sau đó, khi đã khiển trách các vị Tỳ-khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức, Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn. Ngài đã nói pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các Tỳ-khưu rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị thầy tế độ. Này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ sẽ gợi lên ở người đệ tử[21] tâm của người con và người đệ tử sẽ gợi lên ở vị thầy tế độ tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau, có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.
Và này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ nên được xác định như vầy: [Người đệ tử] nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con.” [Vị thầy tế độ nên nói rằng:] “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hãy làm cho thành tựu với sự hoan hỷ!” [Nếu] vị [thầy tế độ] bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói thì vị thầy tế độ đã được xác định. [Nếu] vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy tế độ đã không được xác định.
9. Này các Tỳ-khưu, người đệ tử nên thực hành bổn phận đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là bổn phận đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng và nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, rồi đem cất.
10. Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong [đã thay đổi], nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên, nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có vị Sa-môn hầu cận đi theo, [người đệ tử] nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa bình bát và cầm lấy, rồi nên đi theo làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được [vị thầy] hoán đổi.
11. Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong [trước đây], nên nhận lại y lót trong [mặc lúc đi]. Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng, nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại [nghĩ rằng]: “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.”[22] Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
12. Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước [rửa] rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước [rửa], nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
13. Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
14. Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để xuống một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào [chỗ] các Tỳ-khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các Tỳ-khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
15. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi đã tắm xong nên đi ra [khỏi nước] trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh [thầy] đọc tụng, nên thỉnh [thầy] đọc tụng. Nếu có ý muốn hỏi đạo thì có thể hỏi đạo.
16. Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
17. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rưới nước rồi quét [nghĩ rằng]: “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”
18. Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
19. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
20. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Đông, các cửa sổ hướng Đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Tây, các cửa sổ hướng Tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Bắc, các cửa sổ hướng Bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Nam, các cửa sổ hướng Nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
21. Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
22. Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị thầy.
23. Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng, xứng đáng hình phạt Parivāsa, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Parivāsa cho thầy tế độ?”
24. Nếu thầy tế độ xứng đáng việc đưa về lại [hình phạt] ban đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy tế độ về lại [hình phạt] ban đầu?”
25. Nếu thầy tế độ xứng đáng hình phạt Mānatta, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Mānatta cho thầy tế độ?”
26. Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?”
27. Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi và hội chúng có thể thu hồi hành sự này?”
28. Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?” Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?” Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo, không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.
29. Không có phép của thầy tế độ, không nên cho bình bát đến người khác, không nên thọ lãnh bình bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lãnh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lãnh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm Sa-môn hầu cận cho người khác, không nên nhận người khác làm Sa-môn hầu cận, không nên mang đồ ăn khất thực lại giùm người khác, không nên nhờ người khác mang giùm đồ ăn khất thực lại.
30. Chưa xin phép thầy tế độ, không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi [đến khi] vị ấy có sự hồi phục.
Dứt phận sự đối với thầy tế độ.
*****
1. Này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ nên thực hành bổn phận đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là bổn phận đúng đắn trong trường hợp này: Này các Tỳ-khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy.
2. Nếu thầy tế độ có bình bát và người đệ tử không có bình bát, thầy tế độ nên cho bình bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến đệ tử?”
3. Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?”
4. Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?”
5. Nếu người đệ tử bị bệnh, [vị thầy tế độ] nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đã uống cháo xong, nên trao nước [rửa], nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.
6. Nếu người đệ tử có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong [đã thay đổi], nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. [Nghĩ rằng]: “Đến lúc vị ấy sắp trở về”, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong [trước đây], nên nhận lại y lót trong [mặc lúc đi]. Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại [nghĩ rằng]: “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
7. Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước [rửa] rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong, nên trao nước [rửa]. Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng.
8. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống, không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
9. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu người đệ tử có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
10. Nếu người đệ tử có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên để xuống một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào [chỗ] các Tỳ-khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các Tỳ-khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi, nên kỳ cọ cho người đệ tử. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
11. Lúc ở trong nước, nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi đã tắm xong, nên đi ra [khỏi nước] trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ.
12. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
13. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên, nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rưới nước rồi quét [nghĩ rằng]: “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”
14. Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
15. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
16. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Đông, các cửa sổ hướng Đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Tây, các cửa sổ hướng Tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Bắc, các cửa sổ hướng Bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Nam, các cửa sổ hướng Nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
17. Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
18. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị ấy.
19. Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng, xứng đáng hình phạt Parivāsa, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Parivāsa cho đệ tử?”
20. Nếu người đệ tử xứng đáng việc đưa về lại [hình phạt] ban đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể đưa đệ tử về lại [hình phạt] ban đầu?”
21. Nếu người đệ tử xứng đáng hình phạt Mānatta, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Mānatta cho đệ tử?”
22. Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?”
24.[23] Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi và hội chúng có thể thu hồi hành sự này?”
25. Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?” Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được may?” Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?” Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi [đến khi] vị ấy có sự hồi phục.”
Dứt phận sự đối với đệ tử.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành bổn phận đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các Tỳ-khưu nào ít ham muốn, ...(nt)... các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các người đệ tử lại không thực hành bổn phận đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”
2. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành bổn phận đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy. ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, người đệ tử không nên không thực hành bổn phận đúng đắn đối với các vị thầy tế độ; vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội Dukkaṭa.
[Các người đệ tử] vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép đuổi đi người [đệ tử] không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các Tỳ-khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi”, hay là “Đừng có quay trở lại đây”, hay là “Hãy đem đi y bát của ngươi”, hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” [Nếu] vị [thầy tế độ] bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói thì người đệ tử đã bị đuổi đi. [Nếu] vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói thì người đệ tử không bị đuổi đi.
3. Vào lúc bấy giờ, những người đệ tử bị đuổi đi đã không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép xin lỗi.
Các người [đệ tử] vẫn không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, người [đệ tử] bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi thì phạm tội Dukkaṭa.
4. Vào lúc bấy giờ, khi được xin lỗi, các vị thầy tế độ không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép tha thứ.
Các vị [thầy tế độ] vẫn không tha thứ. Những người đệ tử bỏ đi, [hoặc] hoàn tục, [hoặc] theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ thì phạm tội Dukkaṭa.
5. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ đuổi đi những người [đệ tử] thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người [đệ tử] không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên đuổi đi người [đệ tử] thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi thì phạm tội Dukkaṭa. Và này các Tỳ-khưu, không nên không đuổi đi người [đệ tử] không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi thì phạm tội Dukkaṭa.
6. Này các Tỳ-khưu, nên đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố: Đối với thầy tế độ, không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, [và] không có nhiều sự rèn luyện.[24] Này các Tỳ-khưu, nên đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố này.
7. Này các Tỳ-khưu, không nên đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố: Đối với thầy tế độ, có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, [và] có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, không nên đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố này.
8. Này các Tỳ-khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố: Đối với thầy tế độ, không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, [và] không có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố này.
9. Này các Tỳ-khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố: Đối với thầy tế độ, có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, [và] có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố này.
10. Này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố: Đối với thầy tế độ, không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, [và] không có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố này.
11. Này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố: Đối với thầy tế độ, có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, [và] có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử có năm yếu tố này.
12. Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ [tên Rādha] đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.
13. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy, đã bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, việc gì khiến người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?
– Bạch Ngài, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.
14. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, có vị nào nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy?
Khi được nói như vậy, Đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, con nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy.
– Này Sāriputta, ngươi nhớ được điều tốt đẹp gì của người Bà-la-môn ấy?
– Bạch Ngài, trường hợp này là khi con đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha, người Bà-la-môn ấy đã sai người cho một muỗng vật thực. Bạch Ngài, đó là điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy mà con nhớ được.
– Này Sāriputta, tốt lắm, tốt lắm! Này Sāriputta, bởi vì những người tốt là những người biết ơn và nhớ ơn đã thọ. Này Sāriputta, chính vì điều ấy, ngươi hãy cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên.
– Bạch Ngài, con cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên như thế nào?
15. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, việc tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ [tam quy] đã được Ta cho phép, kể từ nay Ta hủy bỏ việc ấy. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép tu lên bậc trên bằng hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư. Và này các Tỳ-khưu, nên cho tu lên bậc trên như vầy, hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực:
16. “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đây là lời đề nghị.
17. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Hội chúng cho vị tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
18. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Hội chúng cho vị tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
19. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Hội chúng cho vị tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
20. Vị tên [như vầy] đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
21. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ-khưu nọ thực hiện hành động sai trái liền ngay sau khi được tu lên bậc trên. Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy:
– Này Đại đức, chớ có hành động như thế, điều ấy không được phép.
Vị ấy đã nói như vầy:
– Tôi đâu có thỉnh cầu các Đại đức rằng: “Các Đại đức hãy cho tôi tu lên bậc trên.” Tại sao các ngài khi chưa được tôi thỉnh cầu mà đã cho tu lên bậc trên?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không thỉnh cầu; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép, ban phép tu lên bậc trên đối với người đã thỉnh cầu. Và này các Tỳ-khưu, nên được thỉnh cầu như vầy:
Vị có ý muốn tu lên bậc trên ấy nên đi đến hội chúng Tỳ-khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các vị Tỳ-khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với hội chúng như vầy: “Bạch các ngài, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, vì lòng thương xót, xin hội chúng hãy tế độ tôi.” Nên được thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu đến lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Vị tên [như vầy] thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Vị tên [như vầy] thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Hội chúng cho vị tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. ...(nt).
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. ...(nt).
Vị tên [như vầy] đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
22. Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha, sự tuần tự của các bữa trai phạn gồm các thức ăn hảo hạng được tiến hành đều đặn. Khi ấy, có người Bà-la-môn nọ đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử này?”
23. Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Khi người ấy đã được xuất gia, sự tuần tự của các bữa ăn đã hết. Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy:
– Này Đại đức, hãy đến. Hôm nay, chúng ta sẽ đi khất thực.
Vị ấy đã nói như vầy:
– Này các Đại đức, tôi đã không xuất gia vì nguyên nhân này: “Ta sẽ đi khất thực.” Nếu các vị cho tôi thì tôi sẽ ăn, nếu các vị không cho tôi thì tôi sẽ hoàn tục.
– Này Đại đức, có phải ngài đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử?
– Này các Đại đức, đúng vậy.
24. Các Tỳ-khưu nào ít ham muốn, ...(nt)... các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao vị Tỳ-khưu lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
25. – Này Tỳ-khưu, nghe nói ngươi đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử, có đúng không vậy?
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
– Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
26. – Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên chỉ dẫn về bốn pháp nương nhờ: Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng.
Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ, trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là [y làm bằng] sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố.
Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.
Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía.
Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy tế độ là thứ năm.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, có chàng thanh niên nọ đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã chỉ dẫn cho chàng trai về các pháp nương nhờ trước. Chàng trai đã nói như vầy:
– Thưa các ngài, nếu khi tôi đã được xuất gia, các ngài mới chỉ dẫn về các pháp nương nhờ thì tôi còn có thể thích thú. Thưa các ngài, giờ đây, tôi sẽ không xuất gia. Đối với tôi, các pháp nương nhờ là ghê tởm đáng ghét.
2. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên chỉ dẫn về các pháp nương nhờ trước; vị nào chỉ dẫn thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép chỉ dẫn về các pháp nương nhờ liền ngay sau khi đã được tu lên bậc trên.
3. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu đã ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm hai vị, nhóm ba vị. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm ít hơn mười vị; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm mười vị hoặc nhóm trên mười vị.
4. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu chỉ được một năm, hai năm đã cho đệ tử tu lên bậc trên. Ngay cả Đại đức Upasena, con trai của Vaṅganta, được một năm đã cho người đệ tử tu lên bậc trên. Khi đã sống qua mùa [an cư] mưa là được hai năm, vị ấy đã đưa người đệ tử được một năm đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các Tỳ-khưu đi đến.
5. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với Đại đức Upasena, con trai của Vaṅganta điều này:
– Này các Tỳ-khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không?
– Bạch Thế Tôn, sức khoẻ có khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch Ngài, chúng con đi đường xa ít có mệt nhọc.
6. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời, các vị mới hỏi; biết đúng thời, các vị vẫn không hỏi; có liên quan đến lợi ích, các đấng Như Lai mới hỏi và không [hỏi việc] không có liên quan đến lợi ích; khi không có liên quan đến lợi ích, các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các Tỳ-khưu với hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết giảng giáo pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”
7. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với Đại đức Upasena, con trai của Vaṅganta điều này:
– Này Tỳ-khưu, ngươi được bao nhiêu năm?
– Bạch Thế Tôn, con được hai năm.
– Còn vị Tỳ-khưu này được bao nhiêu năm?
– Bạch Thế Tôn, được một năm.
– Vị Tỳ-khưu này là gì của ngươi?
– Bạch Thế Tôn, là đệ tử của con.
8. Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng:
– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao [trong khi] ngươi còn cần được những người khác giáo huấn giảng dạy lại nghĩ đến giáo huấn giảng dạy người khác? Này kẻ rồ dại, ngươi trở thành đa đoan quá nhanh chóng, tức là việc kết nạp đồ chúng. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, vị dưới mười năm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.
9. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm [nghĩ rằng]: “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban phép tu lên bậc trên. [Các trường hợp] những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện.
10. Có vị nọ trước đây theo ngoại đạo, trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc giáo pháp, đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển sang [tu tập ở] lãnh vực của chính ngoại đạo ấy.
11. Các Tỳ-khưu nào ít ham muốn, ...(nt)... các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các vị Tỳ-khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm [nghĩ rằng]: ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến [các trường hợp] những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện?”
12. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, nghe nói các vị Tỳ-khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm [nghĩ rằng]: “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban phép tu lên bậc trên khiến [các trường hợp] những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện, có đúng không vậy?
13. – Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
– Này các Tỳ-khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy là ngu dốt, thiếu kinh nghiệm lại [nghĩ rằng]: ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến [các trường hợp] những thầy tế độ ngu dốt ...(nt)... và các đệ tử trí tuệ được phát hiện? Này các Tỳ-khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.
14. Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, qua bên nhóm khác, các Tỳ-khưu trở thành không có thầy dạy học và trong khi không được giáo huấn, không được giảng dạy [nên đã] mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực.
15. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm; các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống; các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực; các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.
16. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”
17. Các Tỳ-khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(nt).
18. – Này các Tỳ-khưu, nghe nói ...(nt)... có đúng không vậy?
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy. ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị thầy dạy học. Này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học sẽ gợi lên ở người học trò tâm của người con và người học trò sẽ gợi lên ở vị thầy dạy học tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.
19. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép sống nương nhờ mười năm và vị mười năm được ban cho sự nương nhờ. Và này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học nên được xác định như vầy: [Người học trò] nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào Đại đức. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào Đại đức. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào Đại đức.” [Vị thầy dạy học nên nói rằng]: “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hãy làm cho thành tựu với sự hoan hỷ!” [Nếu] vị [thầy dạy học] bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói thì vị thầy dạy học đã được xác định. [Nếu] vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy dạy học đã không được xác định.
20. Này các Tỳ-khưu, người học trò nên thực hành bổn phận đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là bổn phận đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, rồi đem cất.
21. Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong [đã thay đổi], nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có Sa-môn hầu cận đi theo, vị ấy nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, thắt lại dây buộc, rửa bình bát và cầm lấy, rồi nên đi theo làm Sa-môn hầu cận cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được [vị thầy] hoán đổi.
22. Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong [trước đây], nên nhận lại y lót trong [mặc lúc đi]. Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng, nên gấp y lại. Trong khi gấp y, nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại [nghĩ rằng]: “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
23. Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước [rửa] rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong, nên dâng nước [rửa], nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng, nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
24. Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu [thầy dạy học] có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
25. Nếu thầy dạy học có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y và để xuống một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào [chỗ] các Tỳ-khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các Tỳ-khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi, nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
26. Lúc ở trong nước, nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi đã tắm xong, nên đi ra [khỏi nước] trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh [thầy] đọc tụng, nên thỉnh [thầy] đọc tụng. Nếu có ý muốn hỏi đạo thì có thể hỏi đạo.
27. Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
28. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào, rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rưới nước rồi quét [nghĩ rằng]: “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”
29. Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
30. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
31. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Đông, các cửa sổ hướng Đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Tây, các cửa sổ hướng Tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Bắc, các cửa sổ hướng Bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Nam, các cửa sổ hướng Nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
32. Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
33. Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị thầy.
34. Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng, xứng đáng hình phạt Parivāsa, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Parivāsa cho thầy dạy học?”
35. Nếu thầy dạy học xứng đáng việc đưa về lại [hình phạt] ban đầu, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy dạy học về lại [hình phạt] ban đầu?”
36. Nếu thầy dạy học xứng đáng hình phạt Mānatta, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Mānatta cho thầy dạy học?”
37. Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?”
38. Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi và hội chúng có thể thu hồi hành sự này?”
39. Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học trò nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?” Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học trò nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học trò nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?” Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học trò nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.
40. Không có phép của thầy dạy học, không nên cho bình bát đến người khác. Không nên thọ lãnh bình bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lãnh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lãnh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm Sa-môn hầu cận cho người khác. Không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận. Không nên mang đồ ăn khất thực lại giùm người khác. Không nên nhờ người khác mang giùm đồ ăn khất thực lại.
41. Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi [đến khi] vị ấy có sự hồi phục.
Dứt phận sự đối với thầy dạy học.
*****
1. Này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học nên thực hành bổn phận đúng đắn đối với người học trò. Đây là bổn phận đúng đắn trong trường hợp này: Này các Tỳ-khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học trò, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy.
2. Nếu thầy dạy học có bình bát và người học trò không có bình bát, thầy dạy học nên cho bình bát đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến học trò?”
3. Nếu thầy dạy học có y và người học trò không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học trò?”
4. Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học trò không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học trò?”
5. Nếu người học trò bị bệnh, [vị thầy dạy học] nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người học trò đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, rồi đem cất.
6. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong [đã thay đổi], nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. [Nghĩ rằng]: “Đến lúc vị ấy sắp trở về”, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong [trước đây], nên nhận lại y lót trong [mặc lúc đi]. Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng, nên gấp y lại. Trong khi gấp y, nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại [nghĩ rằng]: “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
7. Nếu có đồ ăn khất thực và người học trò có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước [rửa] rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Khi người học trò ăn xong nên trao nước [rửa]. Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận, không làm trầy, nên làm ráo nước rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng.
8. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
9. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu [người học trò] có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
10. Nếu người học trò có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để xuống một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào [chỗ] các Tỳ-khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các Tỳ-khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi, nên kỳ cọ cho người học trò. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
11. Lúc ở trong nước, nên kỳ cọ cho người học trò. Khi đã tắm xong, nên đi ra [khỏi nước] trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học trò. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người học trò về nước uống.
12. Ở trú xá nào người học trò cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc; nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc; nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào, rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.
13. Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lổ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rưới nước rồi quét [nghĩ rằng]: “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.” Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.
14. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo, không làm trầy [mặt đất], không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây]. Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt [trước đây].
15. Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
16. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Đông, các cửa sổ hướng Đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Tây, các cửa sổ hướng Tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Bắc, các cửa sổ hướng Bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng Nam, các cửa sổ hướng Nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
17. Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
18. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng pháp cho vị ấy.
19. Nếu người học trò bị phạm tội nặng, xứng đáng hình phạt Parivāsa, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Parivāsa cho học trò?”
20. Nếu người học trò xứng đáng việc đưa về lại [hình phạt] ban đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể đưa học trò về lại [hình phạt] ban đầu?”
21. Nếu người học trò xứng đáng hình phạt Mānatta, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt Mānatta cho học trò?”
22. Nếu người học trò xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học trò?”
23. Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với học trò, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để học trò có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi và hội chúng có thể thu hồi hành sự này?”
24. Nếu y của người học trò cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được giặt?” Nếu y của học trò cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được may?” Nếu thuốc nhuộm của người học trò cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của học trò được nấu?” Nếu y của người học trò cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy”, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học trò bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi [đến khi] vị ấy có sự hồi phục.
Dứt phận sự đối với học trò.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các người học trò không thực hành bổn phận đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, người học trò nên thực hành bổn phận đúng đắn đối với các vị thầy dạy học; vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội Dukkaṭa.
[Các người học trò] vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép đuổi đi người [học trò] không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các Tỳ-khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi”, hay là “Đừng có quay trở lại đây”, hay là “Hãy đem đi y bát của ngươi”, hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” [Nếu] vị [thầy dạy học] bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người học trò đã bị đuổi đi. [Nếu] vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói thì người học trò không bị đuổi đi.
2. Vào lúc bấy giờ, những người học trò bị đuổi đi không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép xin lỗi.
Các người [học trò] vẫn không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, người [học trò] bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi thì phạm tội Dukkaṭa.
3. Vào lúc bấy giờ, trong khi được xin lỗi, các vị thầy dạy học không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép tha thứ.
Các vị [thầy dạy học] vẫn không tha thứ. Những người học trò rời đi, [hoặc] hoàn tục, [hoặc] theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, trong khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ thì phạm tội Dukkaṭa.
4. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học đuổi đi những người [học trò] thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người [học trò] không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên đuổi đi người [học trò] thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, không nên không đuổi đi người [học trò] không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi thì phạm tội Dukkaṭa.
5. Này các Tỳ-khưu, nên đuổi đi người học trò có năm yếu tố: Đối với thầy dạy học, không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, [và] không có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, nên đuổi đi người học trò có năm yếu tố này.
6. Này các Tỳ-khưu, không nên đuổi đi người học trò có năm yếu tố: Đối với thầy dạy học, có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, [và] có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, không nên đuổi đi người học trò có năm yếu tố này.
7. Này các Tỳ-khưu, người học trò là đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố: Đối với thầy dạy học, không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, [và] không có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, người học trò là đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố này.
8. Này các Tỳ-khưu, người học trò là không đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố: Đối với thầy dạy học, có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, [và] có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, người học trò là không đáng bị đuổi đi khi có năm yếu tố này.
9. Này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học trò có năm yếu tố: Đối với thầy dạy học, không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, [và] không có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học trò có năm yếu tố này.
10. Này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học trò có năm yếu tố: Đối với thầy dạy học, có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, [và] có nhiều sự rèn luyện. Này các Tỳ-khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học trò có năm yếu tố này.
11. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm [nghĩ rằng]: “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban cho sự nương nhờ. [Các trường hợp] những thầy dạy học ngu dốt và các học trò sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học trò có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học trò nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học trò trí tuệ được phát hiện.
12. Các Tỳ-khưu nào ít ham muốn, ...(nt)... các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các vị Tỳ-khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm [nghĩ rằng]: ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban cho sự nương nhờ khiến [các trường hợp] những thầy dạy học ngu dốt và các học trò sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học trò có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học trò nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học trò trí tuệ được phát hiện?”
13. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, nghe nói ...(nt)... có đúng không vậy?
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy. ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm không nên ban cho sự nương nhờ; vị nào ban cho thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban cho sự nương nhờ.
Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy dạy học là thứ sáu.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy dạy học và thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, chuyển qua nhóm khác, các vị Tỳ-khưu không biết các trường hợp đình chỉ sự nương nhờ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, đây là năm trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ: Thầy tế độ rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh [đuổi đi] là thứ năm. Này các Tỳ-khưu, đây là năm trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ.
2. Này các Tỳ-khưu, đây là sáu trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học: Thầy dạy học rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh [đuổi đi] là thứ năm, hoặc đã được gặp lại thầy tế độ. Này các Tỳ-khưu, đây là sáu trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học.
3. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không thành tựu Vô học giới uẩn, không thành tựu Vô học định uẩn, không thành tựu Vô học tuệ uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
4. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị thành tựu Vô học giới uẩn, thành tựu Vô học định uẩn, thành tựu Vô học tuệ uẩn, thành tựu Vô học giải thoát uẩn, thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
5. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu Vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giới uẩn; bản thân không thành tựu Vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học định uẩn; bản thân không thành tựu Vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học tuệ uẩn; bản thân không thành tựu Vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát uẩn; bản thân không thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
6. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu Vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giới uẩn; bản thân thành tựu Vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học định uẩn; bản thân thành tựu Vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học tuệ uẩn; bản thân thành tựu Vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát uẩn; bản thân thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
7. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn [tội lỗi], không có sự ghê sợ [tội lỗi], biếng nhác, có niệm bị quên lãng. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
8. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn [tội lỗi], có sự ghê sợ [tội lỗi], có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
9. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới,[25] bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh,[26] bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan,[27] ít học hỏi, trí kém. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
10. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
11. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội [ở đệ tử hay học trò], để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo pháp nỗi nghi hoặc đã sanh khởi [ở đệ tử hay học trò], không biết về sự phạm tội, không biết cách thoát khỏi tội. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
12. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội [ở đệ tử hay học trò], để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo pháp nỗi nghi hoặc đã sanh khởi [ở đệ tử hay học trò], biết về sự phạm tội, biết cách thoát khỏi tội. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
13. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản,[28] để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh,[29] để hướng dẫn về Thắng pháp, để hướng dẫn về Thắng luật,[30] để phân tách đúng theo pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
14. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng pháp, để hướng dẫn về Thắng luật, để phân tách đúng theo pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
15. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều học và từng phần phụ thuộc. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
16. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
17. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
18. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
Dứt mười sáu nhóm năm của phần “Nên ban phép tu lên bậc trên.”
*****
1. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không thành tựu Vô học giới uẩn, không thành tựu Vô học định uẩn, không thành tựu Vô học tuệ uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
2. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị thành tựu Vô học giới uẩn, thành tựu Vô học định uẩn, thành tựu Vô học tuệ uẩn, thành tựu Vô học giải thoát uẩn, thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
3. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu Vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giới uẩn; bản thân không thành tựu Vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học định uẩn; bản thân không thành tựu Vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học tuệ uẩn; bản thân không thành tựu Vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát uẩn; bản thân không thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
4. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu Vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giới uẩn; bản thân thành tựu Vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học định uẩn; bản thân thành tựu Vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học tuệ uẩn; bản thân thành tựu Vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát uẩn; bản thân thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được Vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
5. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn [tội lỗi], không có sự ghê sợ [tội lỗi], biếng nhác, có niệm bị quên lãng, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
6. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn [tội lỗi], có sự ghê sợ [tội lỗi], có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
7. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
8. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
9. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ, hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội [ở đệ tử hay học trò], để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo pháp nỗi nghi hoặc đã sanh khởi [ở đệ tử hay học trò], không biết về tội, không biết cách thoát khỏi tội, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
10. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội [ở đệ tử hay học trò], để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo pháp nỗi nghi hoặc đã sanh khởi [ở đệ tử hay học trò], biết về tội, biết cách thoát khỏi tội, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
11. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng pháp, để hướng dẫn về Thắng luật, để phân tách đúng theo pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
12. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng pháp, để hướng dẫn về Thắng luật, để phân tách đúng theo pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
13. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho Sa-di phục vụ.
14. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho Sa-di phục vụ.
Dứt mười bốn nhóm sáu của phần “Nên ban phép tu lên bậc trên.”
*****
1. Vào lúc bấy giờ, có người trước đây theo ngoại đạo, trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc giáo pháp, đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển sang [tu tập ở] lãnh vực của chính ngoại đạo ấy. Người ấy đã quay trở lại lần nữa và thỉnh cầu các Tỳ-khưu sự tu lên bậc trên. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, người nào trước đây theo ngoại đạo, trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc giáo pháp, đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển sang [tu tập ở] lãnh vực của chính ngoại đạo ấy, người ấy đi đến thì không nên cho tu lên bậc trên.
2. Này các Tỳ-khưu, còn có hạng người khác, trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi sự xuất gia trong Pháp và Luật này, mong mỏi việc tu lên bậc trên, nên ban cho vị ấy bốn tháng Parivāsa.[31] Này các Tỳ-khưu, nên ban cho như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị Tỳ-khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy: ‘Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ. Tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ.’”
3. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo ấy nên đi đến hội chúng, nên đắp thượng y một bên vai, nên đảnh lễ ở chân các Tỳ-khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, tôi tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng bốn tháng Parivāsa.” Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba.
4. Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng bốn tháng Parivāsa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho vị tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo bốn tháng Parivāsa. Đây là lời đề nghị.
5. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng bốn tháng Parivāsa. Hội chúng ban cho vị tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo, bốn tháng Parivāsa. Đại đức nào đồng ý việc ban cho bốn tháng Parivāsa đến vị tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
6. Bốn tháng Parivāsa đã được hội chúng ban cho vị tên [như vầy] trước đây theo ngoại đạo. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
7. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế này là người đạt yêu cầu, như thế này là người không đạt yêu cầu. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người không đạt yêu cầu? Này các Tỳ-khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng quá sớm và trở về quá trễ. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
8. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo lai vãng với đĩ điếm, hoặc lai vãng với góa phụ, hoặc lai vãng với gái lỡ thời, hoặc lai vãng với người vô căn, hoặc lai vãng với Tỳ-khưu-ni. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
9. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ gì đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh. Trong những trường hợp ấy, người trước đây theo ngoại đạo lại không khéo léo, không năng động, không có sự tìm tòi cách giải quyết các vấn đề ấy, không đủ khả năng làm, không đủ khả năng hướng dẫn [người khác làm]. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
10. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không có ước muốn mãnh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ.[32] Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
11. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo pháp, hoặc về Hội chúng; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo pháp, hoặc về Hội chúng. Này các Tỳ-khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc không đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo đã đi đến [nếu] là người không đạt yêu cầu như thế ấy thì không nên cho tu lên bậc trên.
12. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người đạt yêu cầu? Này các Tỳ-khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng không quá sớm và trở về không quá trễ. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
13. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không lai vãng với đĩ điếm, không lai vãng với góa phụ, không lai vãng với gái lỡ thời, không lai vãng với người vô căn, không lai vãng với Tỳ-khưu-ni. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
14. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ gì đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh. Trong những trường hợp ấy, người trước đây theo ngoại đạo là khéo léo, năng động, có sự tìm tòi cách giải quyết các vấn đề ấy, có đủ khả năng làm, có đủ khả năng hướng dẫn [người khác làm]. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
15. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo có ước muốn mãnh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
16. Này các Tỳ-khưu, còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo pháp, hoặc về Hội chúng; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo pháp, hoặc về Hội chúng. Này các Tỳ-khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu. Này các Tỳ-khưu, người trước đây theo ngoại đạo đã đi đến [nếu] là người đạt yêu cầu như thế ấy thì nên cho tu lên bậc trên.
17. Này các Tỳ-khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là trần truồng đi đến, y là trách nhiệm thuộc về thầy tế độ, cần được tìm kiếm. Nếu người có tóc chưa được cắt đi đến thì hội chúng nên được thông báo về việc cạo tóc. Này các Tỳ-khưu, những người nào là các vị thờ lửa, là các đạo sĩ bện tóc, [nếu] các vị ấy đã đi đến thì nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho Parivāsa đến những người ấy. Lý do của điều ấy là gì? Này các Tỳ-khưu, những người ấy là những người thuyết về nghiệp, là những người thuyết về nhân quả. Này các Tỳ-khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là người thuộc dòng Sakya đi đến, [nếu] người ấy đã đi đến thì nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho Parivāsa đến người ấy. Này các Tỳ-khưu, Ta ban cho đặc ân ngoại lệ này đến các thân quyến.
Dứt phần giảng về người trước đây theo ngoại đạo.
Tụng phẩm thứ bảy.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, có năm thứ bệnh phát triển rộng khắp trong dân chúng xứ Magadha là bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Những người mắc phải năm thứ bệnh đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và nói như vầy:
– Thưa thầy, tốt đẹp thay, thầy hãy điều trị cho chúng tôi.
– Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi và hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị [các ngài] được.
– Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và chúng tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay, thầy hãy điều trị cho chúng tôi.
– Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi và hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị [các ngài] được.
2. Khi ấy, những người dân ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là chúng ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỳ-khưu sẽ chăm sóc [chúng ta] và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị.”
3. Sau đó, những người dân ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các Tỳ-khưu đã chăm sóc họ và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị.
4. Vào lúc bấy giờ, trong lúc chăm sóc nhiều Tỳ-khưu bị bệnh, các vị Tỳ-khưu sống có nhiều sự xin xỏ, có nhiều sự yêu cầu: “Hãy bố thí vật thực dành cho người bệnh, hãy bố thí vật thực dành cho người chăm sóc bệnh, hãy bố thí dược phẩm dành cho người bệnh.” Ngay cả Jīvaka Komārabhacca, trong lúc điều trị nhiều Tỳ-khưu bị bệnh, đã xao lãng phận sự nào đó đối với đức vua.
5. Và có người đàn ông nọ cũng mắc phải năm thứ bệnh, đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và đã nói điều này:
– Thưa thầy, tốt đẹp thay, thầy hãy điều trị cho tôi.
– Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi và hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị [ngài] được.
– Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay, thầy hãy điều trị cho tôi.
– Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi và hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị [ngài] được.
6. Khi ấy, người đàn ông ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỳ-khưu sẽ chăm sóc [ta] và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị; khi khỏi bệnh, ta đây sẽ hoàn tục.”
7. Sau đó, người đàn ông ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các Tỳ-khưu đã chăm sóc người ấy và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị. Người ấy khi khỏi bệnh đã hoàn tục.
8. Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy người đàn ông hoàn tục ấy, sau khi nhìn thấy đã nói với người đàn ông ấy điều này:
– Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia nơi các Tỳ-khưu không?
– Thưa thầy, đúng vậy.
– Thưa ngài, điều gì khiến ngài đã làm việc như thế?
9. Khi ấy, người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho Jīvaka Komārabhacca. Jīvaka Komārabhacca phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
– Tại sao các Đại đức lại cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia?
10. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, tốt đẹp thay các ngài Đại đức không cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia.
11. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi bằng bài pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh rồi ra đi.
12. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho người bị mắc phải năm chứng bệnh xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
13. Vào lúc bấy giờ, vùng biên địa của đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bị [trộm cướp] dấy loạn. Khi ấy, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho các quan đại thần lãnh đạo quân đội rằng:
– Này các khanh, hãy đi và thu hồi lại vùng biên địa.
– Tâu Bệ hạ, xin vâng.
Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã đáp lại đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
14. Khi ấy, các chiến sĩ danh tiếng lẫy lừng đã khởi ý điều này: “Là những người say mê chiến trận, trong khi đi [đánh trận], chúng ta tạo nghiệp ác và gây ra nhiều điều bất thiện. Với phương kế gì chúng ta có thể tránh được việc ác và có thể làm việc lành?”
15. Khi ấy, các chiến sĩ ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành giáo pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu chúng ta có thể xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử, như vậy chúng ta có thể tránh được việc ác và có thể làm việc lành.”
16. Sau đó, các chiến sĩ ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã hỏi các binh sĩ của đức vua rằng:
– Này các khanh, sao các chiến sĩ tên [như vầy] và tên [như vầy] lại không hiện diện?
– Thưa Tướng quân, các chiến sĩ tên [như vầy] và tên [như vầy] đã xuất gia nơi các vị Tỳ-khưu.
Các quan đại thần lãnh đạo quân đội phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho binh sĩ của đức vua xuất gia?” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã trình sự việc ấy lên đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
17. Khi ấy, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã hỏi các quan đại thần phụ trách tòa án rằng:
– Này các khanh, người cho binh sĩ của đức vua xuất gia phạm vào điều gì?
– Tâu Bệ hạ, đầu của thầy tế độ nên bị chặt đi, lưỡi của vị đọc tuyên ngôn nên bị rút ra, một phần xương sườn của nhóm [các vị chứng minh] nên bị bẻ gãy.
18. Sau đó, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, có những vị vua không có đức tin, không có mộ đạo, những vị ấy có thể hãm hại các Tỳ-khưu chỉ vì chuyện không đáng gì. Bạch Ngài, tốt đẹp thay các ngài Đại đức không cho binh sĩ của đức vua xuất gia.”
19. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi cho đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi bằng bài pháp thoại, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh rồi ra đi.
20. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho binh sĩ của đức vua xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
21. Vào lúc bấy giờ, kẻ cướp có mang chuỗi ngón tay[33] đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Dân chúng khi nhìn thấy trở nên sợ hãi, hoảng hốt, bỏ chạy, rẽ sang hướng khác, quay mặt chỗ khác, đóng cửa lại. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia?” Các Tỳ-khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
22. Vào lúc bấy giờ, đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn, ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”
23. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã bị giam trong ngục. Người ấy đã phá ngục tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Dân chúng sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: “Chính người này là kẻ cướp phá ngục. Nào, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn, ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”
24. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp phá ngục xuất gia?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ cướp phá ngục xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
25. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Người ấy đã bị cáo thị tầm nã ở hoàng cung rằng: “Được nhìn thấy tại đâu thì được giết tại đấy.” Dân chúng đã nói như vầy: “Chính người này là kẻ cướp bị cáo thị tầm nã. Nào, chúng ta hãy giết gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn, ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”
26. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
27. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị xử hình phạt đánh bằng roi đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
28. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị xử hình phạt đóng dấu đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
29. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ là kẻ thiếu nợ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Những người chủ nợ đã nhìn thấy và nói như vầy: “Chính người này là kẻ thiếu nợ của chúng ta. Nào, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn, ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”
30. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ thiếu nợ xuất gia?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ thiếu nợ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
31. Vào lúc bấy giờ, có người nô tỳ nọ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Những người chủ đã nhìn thấy và nói như vầy: “Chính người này là kẻ nô tỳ của chúng ta. Nào chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn, ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”
32. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ nô tỳ xuất gia?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho kẻ nô tỳ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
33. Vào lúc bấy giờ, có người thợ bạc bị sói đầu nọ, sau khi cãi vã với cha mẹ đã đi đến tu viện và đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong khi tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, đã đi đến tu viện và đã hỏi các Tỳ-khưu rằng: “Thưa các ngài, vậy chớ các ngài có nhìn thấy người trai trẻ hình dáng như thế này không?” Các vị Tỳ-khưu trong khi không biết nên đã nói rằng: “Chúng tôi không biết”, trong khi không nhìn thấy nên đã nói rằng: “Chúng tôi không nhìn thấy.”
34. Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong lúc tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, nhìn thấy [người ấy] đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Những Sa-môn Thích tử này thật vô liêm sỉ, giới hạnh xấu xa, là những kẻ nói láo, trong khi biết lại nói rằng: ‘Chúng tôi không biết’, trong khi nhìn thấy lại nói rằng: ‘Chúng tôi không nhìn thấy.’ Người trai trẻ này đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu.”
35. Các Tỳ-khưu đã nghe được cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thông báo đến hội chúng về việc cạo tóc.
36. Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có nhóm mười bảy thiếu niên là bạn bè. Thiếu niên Upāli là thủ lãnh của họ. Khi ấy, cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Có phương kế gì để sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?”
37. Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli có thể học chữ viết, như thế sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
38. Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học tính toán, như thế, sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
39. Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học tính toán thì ngực sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học hội họa, như thế sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
40. Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học hội họa thì các con mắt sẽ bị đau. Còn những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, nếu Upāli có thể xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử, như thế sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
41. Thiếu niên Upāli đã nghe được cuộc nói chuyện trao đổi ấy của cha mẹ. Sau đó, thiếu niên Upāli đã đi đến gặp những thiếu niên ấy, sau khi đến đã nói với những thiếu niên ấy điều này: “Này các bạn, hãy đi. Chúng ta sẽ xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử.”
42. Sau đó, những thiếu niên ấy, từng người một đã đi đến gặp cha mẹ của mình và đã nói điều này: “Hãy cho phép con rời nhà xuất gia, sống không nhà.” Khi ấy, cha mẹ của những thiếu niên ấy [nghĩ rằng]: “Tất cả những đứa trẻ này có ước muốn giống nhau, có ý định tốt đẹp” nên đã chấp thuận. Chúng đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã cho chúng xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Những thiếu niên ấy, trong đêm vào lúc hừng sáng, sau khi thức dậy đã khóc lóc: “Hãy cho cháo, hãy cho thức ăn, hãy cho vật nhai.”
43. Các Tỳ-khưu đã nói như vầy: “Này các Sư đệ, hãy chờ đến khi trời sáng, nếu có cháo thì các đệ sẽ húp cháo, nếu có thức ăn thì các đệ sẽ ăn, nếu có vật nhai thì các đệ sẽ nhai; còn nếu không có cháo, hoặc thức ăn, hoặc vật nhai thì các đệ sẽ ăn sau khi đi khất thực.”
44. Trong khi được nói như thế bởi các Tỳ-khưu, các Tỳ-khưu [thiếu niên] ấy vẫn khóc lóc: “Hãy cho cháo, hãy cho thức ăn, hãy cho vật nhai”, rồi đại tiện, tiểu tiện ở chỗ nằm ngồi.
45. Đức Thế Tôn, trong đêm vào lúc hừng sáng, sau khi thức dậy đã nghe tiếng của các đứa trẻ, sau khi nghe đã bảo Đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, tiếng của các đứa trẻ ấy là gì vậy?”
46. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, nghe nói các Tỳ-khưu trong khi biết vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi, có đúng không vậy?
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
– Này các Tỳ-khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy trong khi biết vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi? Này các Tỳ-khưu, người chưa đến hai mươi tuổi không có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng không cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người, thuộc về cơ thể đã sanh khởi.
47. Này các Tỳ-khưu, người đã được hai mươi tuổi, có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Này các Tỳ-khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(nt).
Sau khi khiển trách, Ngài đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, người chưa đến hai mươi tuổi, trong khi biết, không nên cho tu lên bậc trên; vị nào cho tu lên bậc trên thì nên được hành xử theo pháp.[34]
48. Vào lúc bấy giờ, có gia đình nọ bị chết bởi bệnh dịch hạch. Người cha và người con trai của gia đình ấy là [những người] còn sót lại. Họ đã xuất gia nơi các Tỳ-khưu rồi đi khất thực chung với nhau. Khi ấy, lúc đồ ăn khất thực được bố thí đến người cha, đứa trẻ ấy đã chạy lại gần và nói điều này: “Cha yêu quý, hãy cho con với. Cha yêu quý, hãy cho con với.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Những Sa-môn Thích tử này không có Phạm hạnh. Đứa trẻ này đã được sanh ra bởi Tỳ-khưu-ni.”
49. Các Tỳ-khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
50. Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ có đức tin mộ đạo của Đại đức Ānanda bị chết bởi bệnh dịch hạch. Và có hai đứa trẻ trai là [những người] còn sót lại. Khi nhìn thấy các vị Tỳ-khưu, chúng theo thói quen được phép trước đây đã chạy đến gần. Các Tỳ-khưu đã đuổi [chúng] đi. Trong khi bị các vị Tỳ-khưu đuổi đi, chúng đã khóc.
51. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia’; và những đứa trẻ này dưới mười lăm tuổi, vậy bằng phương cách gì để những đứa trẻ này không thể bị tiêu hoại đây?” Sau đó, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này Ānanda, những đứa trẻ ấy có khả năng để đuổi các con quạ bay đi không?
– Bạch Thế Tôn, chúng có khả năng.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép xuất gia đứa trẻ dưới mười lăm tuổi là trẻ [có thể] đuổi được quạ.
52. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Upananda, con trai dòng Sakya có hai Sa-di là Kaṇṭaka và Mahaka. Chúng đã làm điều tồi bại với nhau. Các vị Tỳ-khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các Sa-di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế ấy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, một vị không nên để cho hai Sa-di phục vụ; vị nào để cho phục vụ thì phạm tội Dukkaṭa.
53. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã sống mùa mưa ở ngay tại nơi ấy, trong thành Rājagaha, mùa lạnh ở tại nơi ấy, mùa nóng ở tại nơi ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Các hướng đi của các Sa-môn Thích tử bị tắt nghẽn, tăm tối. Các hướng đi không còn được các vị này nhận ra nữa.”
54. Các Tỳ-khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng:
– Này Ānanda, hãy đi, cầm lấy chìa khóa, và thông báo cho các vị Tỳ-khưu ở dãy phòng rằng: “Này các Đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi, du hành ở đến núi Dakkhiṇāgiri.[35] Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.”
– Bạch Thế Tôn, xin vâng.
Nghe theo lời đức Thế Tôn, Đại đức Ānanda đã cầm lấy chìa khóa và đã thông báo cho các vị Tỳ-khưu ở dãy phòng rằng:
– Này các Đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi, du hành đến núi Dakkhiṇāgiri. Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.
Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy:
– Này Đại đức Ānanda, đức Thế Tôn đã quy định là sống nương nhờ mười năm, vị mười năm được cho nương nhờ. Và [nếu] chúng tôi đi đến nơi ấy thì sự nương nhờ sẽ cần được xác định [ở nơi ấy]. Và việc cư trú sẽ là ngắn ngủi và sẽ quay trở về lại, rồi sự nương nhờ sẽ cần được xác định lại. Nếu các thầy tế độ hoặc thầy dạy học của chúng tôi sẽ đi thì chúng tôi cũng sẽ đi, nếu các thầy tế độ hoặc thầy dạy học của chúng tôi sẽ không đi thì chúng tôi cũng sẽ không đi. Này Đại đức Ānanda, tâm tư nhẹ nhàng là điều sẽ được nhận biết ở chúng tôi.
55. Sau đó, đức Thế Tôn đã ra đi, du hành đến núi Dakkhiṇāgiri với hội chúng Tỳ-khưu là nhóm số lượng ít ỏi. Sau đó, khi đã ngự tại núi Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đức Thế Tôn đã quay trở về lại thành Rājagaha. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, vì sao Như Lai đã ra đi, du hành đến núi Dakkhiṇāgiri với hội chúng Tỳ-khưu là nhóm số lượng ít ỏi?” Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực sống nương nhờ năm năm, vị không có kinh nghiệm thì trọn đời.
56. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu Vô học giới uẩn, không thành tựu Vô học định uẩn, không thành tựu Vô học tuệ uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
57. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu Vô học giới uẩn, thành tựu Vô học định uẩn, thành tựu Vô học tuệ uẩn, thành tựu Vô học giải thoát uẩn, thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
58. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn [tội lỗi], không có sự ghê sợ [tội lỗi], biếng nhác, có niệm bị quên lãng. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
59. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn [tội lỗi], có sự ghê sợ [tội lỗi], có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
60. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
61. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
62. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
63. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng đối với vị này; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
64. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
65. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
66. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu Vô học giới uẩn, không thành tựu Vô học định uẩn, không thành tựu Vô học tuệ uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát uẩn, không thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
67. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu Vô học giới uẩn, thành tựu Vô học định uẩn, thành tựu Vô học tuệ uẩn, thành tựu Vô học giải thoát uẩn, thành tựu Vô học giải thoát tri kiến uẩn, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
68. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn [tội lỗi], không có sự ghê sợ [tội lỗi], biếng nhác, có niệm bị quên lãng, chưa đủ năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
69. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn [tội lỗi], có sự ghê sợ [tội lỗi], có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
70. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
71. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
72. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng đối với vị này; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
73. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng; hơn nữa, đối với vị này, hai bộ Giới bổn (Pātimokkha) khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
Dứt tụng phẩm “Không phải lo sợ” là thứ tám.
*****
1. Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi, du hành về phía thành Kapilavatthu. Trong khi tuần tự du hành, Ngài đã ngự đến thành Kapilavatthu.
2. Tại nơi đó, giữa dân chúng dòng Sakya, đức Thế Tôn ngự ở thành Kapilavatthu, tại tu viện Nigrodha. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư dinh của Suddhodana dòng Sakya,[36] sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
3. Khi ấy, Hoàng hậu, mẹ của Rāhula đã nói với Hoàng tử Rāhula điều này:
– Này Rāhula, người kia là cha của con. Hãy đi và cầu xin phần thừa kế.
Khi ấy, Hoàng tử Rāhula đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở phía trước đức Thế Tôn [nói rằng]:
– Này vị Sa-môn, bóng che của Ngài thật an lạc.
4. Sau đó, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi ấy, Hoàng tử Rāhula đã theo sát phía sau đức Thế Tôn [nói rằng]:
– Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế. Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Sāriputta rằng:
– Này Sāriputta, như thế thì ngươi hãy cho Hoàng tử Rāhula xuất gia.
– Bạch Ngài, con cho Hoàng tử Rāhula xuất gia như thế nào?
5. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép việc xuất gia Sa-di bằng ba sự đi đến nương nhờ [tam quy]. Và này các Tỳ-khưu, nên cho xuất gia như vầy: Trước tiên, nên cho cạo bỏ râu tóc, cho choàng lên các tấm vải màu ca-sa, cho đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị Tỳ-khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy: Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ. Tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội chúng là nơi nương nhờ.” Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép việc xuất gia Sa-di bằng ba sự đi đến nương nhờ này.
6. Khi ấy, Đại đức Sāriputta đã cho Hoàng tử Rāhula xuất gia. Sau đó, Suddhodana dòng Sakya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Suddhodana dòng Sakya đã nói với đức Thế Tôn điều này:
– Bạch Ngài, trẫm thỉnh cầu đức Thế Tôn một điều ước muốn.
– Này vị Gotama, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.
– Bạch Ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.
– Này vị Gotama, xin hãy nói.
– Bạch Ngài, khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít, tương tự như vậy trong việc Nandā,[37] [nhưng là sự đau khổ] vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch Ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da, sau khi cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong; sau khi cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt; sau khi cắt vào thịt, nó cắt vào gân; sau khi cắt vào gân, nó cắt vào xương; sau khi cắt vào xương, nó đạt đến tủy xương rồi trú [ở đó]. Bạch Ngài, tốt đẹp thay các ngài Đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.
7. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi cho Suddhodana dòng Sakya bằng bài pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích và tạo niềm phấn khởi bằng bài pháp thoại, Suddhodana dòng Sakya đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh rồi ra đi.
8. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã nói pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
Dứt phần giảng về câu chuyện của Rāhula.
*****
1. Sau đó, khi đã ngự tại thành Kapilavatthu theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi, du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, Ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó, trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự ở Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của Đại đức Sāriputta đã gởi đứa trẻ trai đến Đại đức Sāriputta [nói rằng]: “Xin ngài Trưởng lão hãy cho đứa trẻ này xuất gia.”
2. Khi ấy, Đại đức Sāriputta đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Một vị không nên để cho hai Sa-di phục vụ’ và ta đây đã có Sa-di Rāhula. Vậy ta nên thực hành như thế nào?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực một mình được để cho hai Sa-di phục vụ, hoặc để cho nhiều [Sa-di] phục vụ với số lượng mà vị ấy vẫn có đủ khả năng để giáo huấn và giảng dạy.
3. Sau đó, các vị Sa-di đã khởi ý điều này: “Chúng ta có bao nhiêu điều học? Và chúng ta nên học tập về vấn đề gì?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép mười điều học đến các Sa-di và [cho phép] các Sa-di học tập về các điều học ấy: Việc tránh xa sự giết hại mạng sống, việc tránh xa sự lấy vật không được cho, việc tránh xa điều phi Phạm hạnh [sự hành dâm], việc tránh xa sự nói dối, việc tránh xa trường hợp dể duôi uống chất say là rượu và chất lên men, việc tránh xa sự ăn phi thời, việc tránh xa sự múa hát đờn và xem trình diễn, việc tránh xa trường hợp đeo vòng hoa thoa vật thơm và tô điểm bằng đồ trang sức, việc tránh xa chỗ nằm ngồi cao và rộng lớn, việc tránh xa sự thọ lãnh vàng bạc. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép mười điều học này đến các Sa-di và [cho phép] các Sa-di học tập về các điều học này.
4. Vào lúc bấy giờ, các Sa-di sống không tôn kính, không vâng lời, có lối cư xử không hòa nhã đối với các Tỳ-khưu. Các vị Tỳ-khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các Sa-di lại sống không tôn kính, không vâng lời, có lối cư xử không hòa nhã đối với các Tỳ-khưu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thực thi hình phạt đối với vị Sa-di có năm yếu tố: Là vị ra sức làm cho các Tỳ-khưu không được lợi lộc; ra sức làm cho các Tỳ-khưu không được sự lợi ích; ra sức làm cho các Tỳ-khưu không có chỗ ngụ; mắng nhiếc, gièm pha các Tỳ-khưu; chia rẽ các Tỳ-khưu [này] với các Tỳ-khưu [khác]. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thực thi hình phạt đối với vị Sa-di có năm yếu tố này.
5. Khi ấy, các Tỳ-khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm.
6. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng đối với các Sa-di. Các Sa-di trong khi không thể đi vào tu viện nên rời đi, hoàn tục, chuyển sang ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng; vị nào thực hiện thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm ở chỗ [Tỳ-khưu] sinh sống hoặc ở chỗ [Tỳ-khưu] lui tới.
7. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các Sa-di. Dân chúng trong lúc làm nước cháo và bữa ăn dâng hội chúng, nói với các Sa-di như vầy: “Này các ngài, hãy đến và húp cháo. Này các ngài, hãy đến và thọ dụng bữa ăn.” Các vị Sa-di nói như vầy: “Này các đạo hữu, không thể được. Các Tỳ-khưu đã thực hiện sự ngăn cấm.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các Đại đức lại thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các Sa-di?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng; vị nào thực hiện thì phạm tội Dukkaṭa.
Dứt câu chuyện về hình phạt.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư không hỏi các vị thầy tế độ lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các Sa-di. Các vị thầy tế độ tìm kiếm [hỏi rằng]: “Vì sao các Sa-di của chúng tôi lại không được nhìn thấy?” Các Tỳ-khưu đã nói như vầy: “Này các Đại đức, các vị Tỳ-khưu nhóm Lục Sư đã thực hiện sự ngăn cấm.” Các vị thầy tế độ phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư không hỏi chúng tôi lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các Sa-di của chúng tôi?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, chưa hỏi các vị thầy tế độ không nên thực hiện sự ngăn cấm; vị nào thực hiện thì phạm tội Dukkaṭa.
2. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư đã dụ dỗ các Sa-di của các Tỳ-khưu trưởng lão. Các vị Trưởng lão bị mệt nhọc trong khi tự mình lấy gỗ chà răng và nước súc miệng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên dụ dỗ tập thể của vị khác; vị nào dụ dỗ thì phạm tội Dukkaṭa.
3. Vào lúc bấy giờ, Sa-di tên Kaṇṭaka của Đại đức Upananda, con trai dòng Sakya đã làm nhơ Tỳ-khưu-ni tên Kaṇṭakī. Các Tỳ-khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao vị Sa-di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép trục xuất Sa-di có mười yếu tố này: Là kẻ giết hại mạng sống, là kẻ lấy vật không được cho, là kẻ phi Phạm hạnh [hành dâm], là kẻ nói dối, là kẻ uống chất say, là kẻ phỉ báng đức Phật, phỉ báng Giáo pháp, phỉ báng Hội chúng, là kẻ có tri kiến sai trái, là kẻ làm nhơ Tỳ-khưu-ni. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép trục xuất vị Sa-di có mười yếu tố này.
4. Vào lúc bấy giờ, có người vô căn nọ đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Người ấy đi đến gặp các vị Tỳ-khưu trẻ rồi nói như vầy: “Này các Đại đức, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Các vị Tỳ-khưu đuổi đi: “Này kẻ vô căn, tiêu mất đi! Này kẻ vô căn, biến mất đi! Ai mà cần đến ngươi?” Bị các Tỳ-khưu xua đuổi, người ấy đi đến gặp các Sa-di to bự lớn xác rồi nói như vầy: “Này các Đại đức, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Các vị Sa-di đuổi đi: “Này kẻ vô căn, tiêu mất đi! Này kẻ vô căn, biến mất đi! Ai mà cần đến ngươi?”
5. Người ấy khi bị các vị Sa-di xua đuổi lại đi đến gặp những người chăn voi, những người giữ ngựa rồi nói như vầy: “Này các đạo hữu, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Những người chăn voi, những người giữ ngựa đã làm điều nhơ nhớp. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Những Sa-môn Thích tử này là những kẻ vô căn. Những người nào trong bọn họ không phải là những kẻ vô căn thì những người ấy làm điều nhơ nhớp với những kẻ vô căn. Như vậy, chính tất cả những người này không có Phạm hạnh.”
6. Các Tỳ-khưu đã nghe được những người chăn voi, những người giữ ngựa phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, kẻ vô căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (1)
7. Vào lúc bấy giờ, có người con trai của gia đình bị khánh tận, không còn thân quyến nọ, là người mảnh mai. Khi ấy, người con trai của gia đình bị khánh tận, không còn thân quyến ấy đã khởi ý điều này: “Ta là người mảnh mai, không đủ khả năng để đạt đến tài sản chưa có, hoặc làm tăng trưởng tài sản đã có, với phương kế gì để ta có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?”
8. Rồi người con trai của gia đình bị khánh tận, không còn thân quyến ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện và chung sống với các Tỳ-khưu?”
9. Sau đó, người con trai của gia đình bị khánh tận, không còn thân quyến ấy, đã tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện và đảnh lễ các vị Tỳ-khưu. Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy:
– Này Đại đức, Đại đức được bao nhiêu năm?
– Được bao nhiêu năm? Này các Đại đức, điều ấy là gì vậy?
– Này Đại đức, ai là thầy tế độ của Đại đức?
– Thầy tế độ? Này các Đại đức, điều ấy là gì vậy?
Các vị Tỳ-khưu đã nói với Đại đức Upāli điều này:
– Này Đại đức Upāli, hãy thẩm tra người đã xuất gia này đi.
10. Sau đó, người con trai của gia đình bị khánh tận không còn thân quyến ấy, trong khi đang được Đại đức Upāli thẩm tra, đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, kẻ trộm tướng mạo [Tỳ-khưu][38] chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các Tỳ-khưu, kẻ đã đi theo ngoại đạo chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (2-3)
11. Vào lúc bấy giờ, có con rồng nọ lo ngại, xấu hổ và chán ghét với sự xuất thân là loài rồng. Sau đó, con rồng ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và có thể thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng?” Khi ấy, con rồng ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành giáo pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và có thể thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng.”
12. Sau đó, con rồng ấy với hình dáng của người thanh niên đã đi đến gặp các vị Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các vị Tỳ-khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Vào lúc bấy giờ, con rồng ấy cùng với vị Tỳ-khưu khác ngụ trong trú xá ở chỗ giáp ranh. Khi ấy, trong đêm vào lúc hừng sáng, vị Tỳ-khưu ấy thức dậy và đi kinh hành ở ngoài trời.
13. Sau đó, trong khi vị Tỳ-khưu ấy đã đi ra ngoài, con rồng ấy hết lo âu nên đã chìm vào giấc ngủ. Toàn bộ trú xá đã bị tràn ngập bởi [thân của] con rồng và các vòng thân còn ló ra khỏi các cửa sổ. Sau đó, vị Tỳ-khưu ấy [nghĩ rằng]: “Ta sẽ đi vào trú xá”, trong lúc đẩy cánh cửa đã nhìn thấy toàn bộ trú xá bị tràn ngập bởi [thân của] con rồng và các vòng thân đang ló ra khỏi các cửa sổ, sau khi nhìn thấy [trở nên] sợ hãi và đã kêu thét lên. Các vị Tỳ-khưu đã chạy lại và nói với vị Tỳ-khưu ấy điều này:
– Này Đại đức, vì sao Đại đức lại kêu thét lên vậy?
– Này các Đại đức, toàn bộ trú xá này bị tràn ngập bởi [thân của] con rồng và các vòng thân còn ló ra khỏi các cửa sổ.
14. Khi ấy, con rồng ấy sau khi thức giấc bởi tiếng động ấy đã ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình. Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy:
– Này đệ, ngươi là ai vậy?
– Thưa các ngài, tôi là rồng.
– Này đệ, vì sao ngươi lại biến thành hình dạng như thế này?
15. Khi ấy, con rồng ấy đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng Tỳ-khưu lại và nói với con rồng ấy điều này:
– Các ngươi là loài rồng không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này. Này rồng, ngươi hãy đi đi. Và hãy tiến hành Uposatha[39] vào ngày mười bốn, ngày mười lăm và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng ở ngay nơi ấy, như thế, ngươi sẽ hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và sẽ thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng.
16. Khi ấy, con rồng ấy [nghĩ rằng]: “Nghe nói ta không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này” [trở nên] đau khổ, rầu rĩ, trong khi đang trào ra nước mắt đã khóc rống lên rồi bỏ đi. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các Tỳ-khưu rằng:
– Này các Tỳ-khưu, đây là hai lý do đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rồng, là khi nó thực hiện việc lứa đôi với rồng cái và khi nó hết lo âu rồi chìm vào giấc ngủ. Này các Tỳ-khưu, hai lý do này đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rồng. Này các Tỳ-khưu, loài thú chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (4)
17. Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người mẹ. Người ấy lo ngại, xấu hổ và chán ghét với hành động ác độc ấy. Sau đó, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy?” Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành giáo pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy.”
18. Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã nói với Đại đức Upāli điều này:
– Này Đại đức Upāli, cũng trước đây, con rồng với hình dáng của người thanh niên đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Này Đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này.
19. Sau đó, trong khi được Đại đức Upāli thẩm tra, người thanh niên ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, kẻ giết mẹ chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (5)
20. Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người cha. Người ấy lo ngại, xấu hổ và chán ghét với nghiệp ác ấy. Sau đó, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy?” Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành giáo pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy.”
21. Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các Tỳ-khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các Tỳ-khưu đã nói với Đại đức Upāli điều này:
– Này Đại đức Upāli, cũng trước đây, con rồng với hình dáng của người thanh niên đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Này Đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này.
22. Sau đó, trong khi được Đại đức Upāli thẩm tra, người thanh niên ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, kẻ giết cha chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (6)
23. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỳ-khưu đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường bọn cướp đã xuất hiện; chúng đã cướp bóc một số Tỳ-khưu và đã giết chết một số Tỳ-khưu. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Những kẻ nào đã bị bắt thì bị đưa đi tử hình.
24. Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: “May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát, nếu hôm nay chúng ta bị bắt, chúng ta cũng có thể bị giết y như thế này.” Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy: “Này các Đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?” Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, các vị Tỳ-khưu ấy là các vị A-la-hán. Này các Tỳ-khưu, kẻ giết A-la-hán chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (7)
25. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỳ-khưu-ni đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn cướp đã xuất hiện; chúng đã cướp bóc một số Tỳ-khưu-ni, đã làm nhơ nhớp một số Tỳ-khưu-ni. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Những kẻ nào đã bị bắt thì bị đưa đi tử hình.
26. Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: “May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát. Nếu hôm nay chúng ta bị bắt, chúng ta cũng có thể bị giết y như thế này.” Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy: “Này các Đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?” Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, kẻ làm nhơ Tỳ-khưu-ni chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các Tỳ-khưu, kẻ làm chia rẽ hội chúng chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các Tỳ-khưu, kẻ làm chảy máu [đức Phật] chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (8-9-10)
27. Vào lúc bấy giờ, có người lưỡng căn nọ[40] đã được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu. Người ấy hành động [như người nam] rồi bảo [người nam khác] hành động [với mình]. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, người lưỡng căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (11)
Dứt mười một câu chuyện về người chưa được tu lên bậc trên.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (1)
2. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (2)
3. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên với nhóm [hai hoặc ba vị Tỳ-khưu] là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên với nhóm [hai hoặc ba vị Tỳ-khưu] là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (3)
4. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên với kẻ vô căn là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo [Tỳ-khưu] là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ đã đi theo ngoại đạo là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ giết A-la-hán là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ Tỳ-khưu-ni là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu [đức Phật] là thầy tế độ. ...(nt)... cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng căn là thầy tế độ.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
5. – Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên với kẻ vô căn là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo [Tỳ-khưu] là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ đã đi theo ngoại đạo là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết A-la-hán là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ Tỳ-khưu-ni là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu [đức Phật] là thầy tế độ. ...(nt)... Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng căn là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (4-14)
6. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên người không có bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có bình bát; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (15)
7. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên người không có y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có y; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (16)
8. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (17)
9. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên với bình bát [mượn] của người đã được yêu cầu [trước]. Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên với bình bát mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (18)
10. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên với y [mượn] của người đã được yêu cầu [trước]. Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên với y mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (19)
11. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho tu lên bậc trên với y và bình bát [mượn] của người đã được yêu cầu [trước]. Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên cho tu lên bậc trên với y và bình bát mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội Dukkaṭa. (20)
Dứt hai mươi trường hợp không nên cho tu lên bậc trên.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu cho người bị đứt cánh tay xuất gia. ...(nt)... cho người bị đứt bàn chân xuất gia. ... cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. ... cho người bị sứt tai xuất gia. ... cho người bị sứt mũi xuất gia. ... cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. ... cho người bị đứt ngón tay xuất gia. ... cho người bị đứt móng tay xuất gia. ... cho người bị đứt gân chân xuất gia. ... cho người có bàn tay dính liền giống cánh dơi xuất gia. ... cho người gù lưng xuất gia. ... cho người lùn tịt xuất gia. ... cho người có bướu cổ xuất gia. ... cho người bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia. ... cho người bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia. ... cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. ... cho người phù chân voi xuất gia. ... cho người có bệnh kinh niên trầm trọng xuất gia. ... cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. ... cho người chột mắt xuất gia. ... cho người có tứ chi bị co rút xuất gia. ... cho người què xuất gia. ... cho người bị liệt nửa thân xuất gia. ... cho người đi khập khiễng xuất gia. ... cho người già yếu xuất gia. ... cho người mù xuất gia. ... cho người câm xuất gia. ... cho người điếc xuất gia. ... cho người mù và câm xuất gia. ... cho người mù và điếc xuất gia. ... cho người câm và điếc xuất gia. ... cho người mù câm điếc xuất gia.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
2. – Này các Tỳ-khưu, không nên cho người bị đứt cánh tay xuất gia. ...(nt)... Không nên cho người bị đứt bàn chân xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. ... Không nên cho người sứt tai xuất gia. ... Không nên cho người bị sứt mũi xuất gia. ... Không nên cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt ngón tay xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt móng tay xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt gân chân xuất gia. ... Không nên cho người có bàn tay dính liền giống cánh dơi xuất gia. ... Không nên cho người gù lưng xuất gia. ... Không nên cho người lùn tịt xuất gia. ... Không nên cho người có bướu cổ xuất gia. ... Không nên cho người bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia. ... Không nên cho người bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia. ... Không nên cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. ... Không nên cho người phù chân voi xuất gia. ... Không nên cho người có bệnh trầm trọng kinh niên xuất gia. ... Không nên cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. ... Không nên cho người chột mắt xuất gia. ... Không nên cho người có tứ chi bị co rút xuất gia. ... Không nên cho người què xuất gia. ... Không nên cho người bị liệt nửa thân xuất gia. ... Không nên cho người đi khập khiễng xuất gia. ... Không nên cho người già yếu xuất gia. ... Không nên cho người mù xuất gia. ... Không nên cho người câm xuất gia. ... Không nên cho người điếc xuất gia. ... Không nên cho người mù và câm xuất gia. ... Không nên cho người mù và điếc xuất gia. ... Không nên cho người câm và điếc xuất gia. ... Không nên cho người mù câm điếc xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội Dukkaṭa.
Dứt ba mươi hai trường hợp không nên cho xuất gia.
Dứt tụng phẩm “Phần thừa kế” là thứ chín.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ; vị nào ban cho thì phạm tội Dukkaṭa.
Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu sống [với pháp] nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ. Chẳng bao lâu sau, các vị ấy cũng trở thành các Tỳ-khưu ác xấu, không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, không nên sống [với pháp] nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ; vị nào sống thì phạm tội Dukkaṭa.
2. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ và không nên sống [với pháp] nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ’, vậy làm thế nào chúng ta biết được [vị nào] là có liêm sỉ hoặc không có liêm sỉ?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép chờ đợi bốn năm ngày đến khi [xác định rằng]: “Ta biết được bản chất của vị Tỳ-khưu.”
3. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ-khưu nọ du hành đường xa trong xứ Kosala. Khi ấy, vị Tỳ-khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ’, và ta là cần có sự nương nhờ nhưng đang du hành đường xa, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu đang du hành đường xa trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.
4. Vào lúc bấy giờ, có hai vị Tỳ-khưu du hành đường xa trong xứ Kosala. Họ đã đi đến gần trú xứ nọ. Tại đó, một vị Tỳ-khưu đã bị lâm bệnh. Khi ấy, vị Tỳ-khưu bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.
5. Khi ấy, vị Tỳ-khưu chăm sóc vị bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ’, và ta là cần có sự nương nhờ nhưng vị Tỳ-khưu này thì bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu chăm sóc vị bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ [dầu] được yêu cầu.[41]
6. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ-khưu nọ trú ngụ ở rừng. Và ở chỗ trú ngụ ấy có được sự thoải mái cho vị ấy [trong việc tiến tu]. Khi ấy, vị Tỳ-khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ’, và ta là cần có sự nương nhờ nhưng ta trú ngụ ở trong rừng. Và ở chỗ trú ngụ này có được sự thoải mái cho ta [trong việc tiến tu], vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu ở rừng đang quan tâm đến việc trú ngụ thoải mái trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ [nghĩ rằng]: “Khi nào có vị ban pháp nương nhờ thích đáng đi đến thì ta sẽ sống nương nhờ vào vị ấy.”
7. Vào lúc bấy giờ, có người có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức Mahākassapa. Khi ấy, Đại đức Mahākassapa đã phái sứ giả đến gặp Đại đức Ānanda nhắn rằng: “Ānanda hãy đi đến và đọc tuyên ngôn cho người này.” Đại đức Ānanda đã nói như vầy:
– Tôi không thể nêu lên tên của ngài Trưởng lão, ngài Trưởng lão là bậc Trưởng thượng của tôi.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép đọc tuyên ngôn với tên của dòng họ.
8. Vào lúc bấy giờ, có hai người có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức Mahākassapa. Họ tranh cãi rằng: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước, tôi sẽ tu lên bậc trên trước.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thực hiện hai [người] trong một lần tuyên ngôn.
9. Vào lúc bấy giờ, có những người có ý muốn tu lên bậc trên với nhiều vị Trưởng lão. Họ tranh cãi rằng: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên, tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên.” Các vị Trưởng lão đã nói như vầy: “Này các Đại đức, chúng ta hãy thực hiện hết thảy tất cả trong một lần tuyên ngôn đi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thực hiện hai hoặc ba [người] trong một lần tuyên ngôn. Và điều ấy là với cùng một thầy tế độ chứ không phải với thầy tế độ khác nhau.
10. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Kumārakassapa là hai mươi [tuổi] tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên. Sau đó, Đại đức Kumārakassapa đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi’, và ta là hai mươi [tuổi] tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên, vậy thì ta đã được tu lên bậc trên hay là chưa được tu lên bậc trên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, khi tâm đầu tiên sanh khởi trong bụng của người mẹ thì thức đầu tiên đã xuất hiện; do điều ấy nên chính thời điểm đó là sự sanh ra của người ấy. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép cho tu lên bậc trên người hai mươi [tuổi] tính theo thai bào.
11. Vào lúc bấy giờ, các vị đã tu lên bậc trên được phát hiện là có [liên quan đến] bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên được hỏi về mười ba pháp chướng ngại. Và này các Tỳ-khưu, nên hỏi như vầy: “Ngươi có các bệnh như vầy không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do [không phải nô lệ]? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”
12. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu hỏi các pháp chướng ngại đến các người có ý muốn tu lên bậc trên chưa được giảng dạy trước. Các người có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cỡ, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép giảng dạy trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.
Các vị giảng dạy ngay tại chỗ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các người có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cỡ, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép giảng dạy ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng. Và này các Tỳ-khưu, nên giảng dạy như vầy: Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi, nên chỉ dẫn về y và bình bát: “Đây là bình bát của ngươi, đây là y hai lớp, đây là thượng y, đây là y nội. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia.”
13. Các vị [Tỳ-khưu] ngu dốt, thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Những người có ý muốn tu lên bậc trên do được giảng dạy tồi nên đã bị bối rối, trở nên mắc cỡ, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, vị [Tỳ-khưu] ngu dốt, thiếu kinh nghiệm không nên giảng dạy; vị nào giảng dạy thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực được giảng dạy.
14. Những vị [Tỳ-khưu] chưa được chỉ định vẫn giảng dạy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, vị không được chỉ định không nên giảng dạy; vị nào giảng dạy thì phạm tội Dukkaṭa. Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép giảng dạy đối với vị đã được chỉ định. Và này các Tỳ-khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
15. Và thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ giảng dạy cho người tên [như vầy].” Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.
16. Và thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên [như vầy] sẽ giảng dạy cho người tên [như vầy].” Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
17. Vị Tỳ-khưu đã được chỉ định ấy nên đi đến gần người có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói như vầy: “Này người tên [như vầy], hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Đúng’; nếu không đúng, nên nói: ‘Không đúng’. Chớ nên bối rối, chớ nên mắc cỡ. Các vị sẽ hỏi ngươi như vầy: ‘Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do [không phải nô lệ]? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?’”
18. Họ đi đến chung [cùng một lúc].
– Này các Tỳ-khưu, không nên đi đến chung [cùng một lúc]. Vị giảng dạy nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng:
19. “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Tôi đã giảng dạy cho người ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng thì người tên [như vầy] có thể đi đến.” Và nên nói rằng: “Ngươi hãy đi đến.”
20. Nên bảo [người ấy] đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các Tỳ-khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên và bảo thỉnh cầu sự tu lên bậc trên:
21. “Bạch các ngài, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, lần thứ nhì tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, lần thứ ba tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót.”
22. Hội chúng nên được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy]. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi người tên [như vầy] về các pháp chướng ngại.” “Này người tên [như vầy], hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Đúng’; nếu không đúng, nên nói: ‘Không đúng’. Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do [không phải nô lệ]? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”
23. Hội chúng nên được thông báo bởi vị Tỳ-khưu kinh nghiệm, có năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy], là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên [như vầy] thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho người tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đây là lời đề nghị.
24. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy], là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên [như vầy] thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Hội chúng cho người tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
25. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy], là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên [như vầy] thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Hội chúng cho người tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
26. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên [như vầy] có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên [như vầy], là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên [như vầy] thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Hội chúng cho người tên [như vầy] tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên [như vầy] với thầy tế độ tên [như vầy] xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
27. Người tên [như vầy] đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên [như vầy]. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự tu lên bậc trên.
*****
1. Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày [giờ] nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, bốn pháp nương nhờ nên được chỉ dạy:
2. “Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực; trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng. (1)
3. Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ; trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là [y làm bằng] sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố. (2)
4. Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây; trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động. (3)
5. Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc; trong trường hợp ấy, ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật, đường mía.” (4)
Dứt bốn pháp nương nhờ.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ-khưu sau khi cho tu lên bậc trên, vị Tỳ-khưu nọ đã bỏ lại [vị ấy] mỗi một mình rồi ra đi. Sau đó, trong khi đang đi chỉ mỗi một mình, giữa đường vị ấy đã gặp lại người vợ cũ. Cô ta đã nói như vầy:
– Nay chàng đã xuất gia rồi sao?
– Đúng vậy, tôi đã xuất gia.
– Đối với các vị xuất gia, việc đôi lứa là khó đạt được. Hãy đến và thực hiện việc đôi lứa đi.
Vị ấy sau khi thực hiện việc đôi lứa với nàng ta đã đi về trễ. Các vị Tỳ-khưu đã nói như vầy: “Này Sư đệ, vì sao Sư đệ đã đi về trễ như vậy?” Khi ấy, vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ-khưu. Các Tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép ban cho người cộng sự và chỉ dạy bốn điều không nên làm ngay sau khi cho tu lên bậc trên:
2. “Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỳ-khưu không nên thực hành việc đôi lứa, thậm chí với loài thú cái. Vị Tỳ-khưu nào thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như người đàn ông đã bị chặt đầu không thể sống với việc gắn lại cái đầu ấy vào thân; tương tợ như thế, vị Tỳ-khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (1)
3. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỳ-khưu không nên lấy vật không được cho được xem là sự trộm cắp, thậm chí có liên quan đến cọng cỏ. Vị Tỳ-khưu nào lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể trở lại màu xanh; tương tợ như thế, vị Tỳ-khưu sau khi lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (2)
4. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỳ-khưu không nên tước đoạt lấy mạng sống của chúng sanh một cách cố tình, thậm chí có liên quan đến loài kiến, mối. Vị Tỳ-khưu nào tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình, thậm chí có liên quan đến việc phá thai thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như tảng đá lớn đã bị vỡ làm hai mảnh không gắn liền lại được; tương tợ như thế, vị Tỳ-khưu sau khi tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (3)
5. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỳ-khưu không nên khoe khoang về pháp của bậc thượng nhân, thậm chí [nói rằng]: ‘Tôi thỏa thích trong ngôi nhà trống vắng.’ Vị Tỳ-khưu nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, rồi khoe khoang về pháp của bậc thượng nhân [mà bản thân] không có, không thực chứng, là pháp thiền, hoặc là pháp giải thoát, hoặc là sự nhập định, hoặc là sự chứng đắc, hoặc là đạo, hoặc là quả thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể đâm chồi lại được nữa; tương tợ như thế, vị Tỳ-khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, sau khi khoe khoang về pháp của bậc thượng nhân [mà bản thân] không có, không thực chứng thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.” (4)
Dứt bốn điều không nên làm.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ-khưu nọ là người bị án treo về việc không nhìn nhận tội đã hoàn tục. Vị ấy đã quay trở lại và thỉnh cầu các Tỳ-khưu sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
2. – Này các Tỳ-khưu, trường hợp vị Tỳ-khưu là người bị án treo về việc không nhìn nhận tội lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và thỉnh cầu các Tỳ-khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên cho xuất gia. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên phục hồi. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi, nên nói rằng: “Ngươi nhìn nhận tội ấy?” Nếu vị ấy nhìn nhận thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không nhìn nhận thì trong khi đạt được sự hợp nhất [của hội chúng] nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung [với vị ấy].
3. Này các Tỳ-khưu, trường hợp vị Tỳ-khưu là người bị án treo về việc không sửa chữa lỗi lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và thỉnh cầu các Tỳ-khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên cho xuất gia. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên phục hồi. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi, nên nói rằng: “Ngươi sửa chữa lỗi ấy?” Nếu vị ấy sửa chữa thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không sửa chữa thì trong khi đạt được sự hợp nhất [của hội chúng] nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung [với vị ấy].
4. Này các Tỳ-khưu, trường hợp vị Tỳ-khưu là người bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và thỉnh cầu các Tỳ-khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên cho xuất gia. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên phục hồi. Nếu [trả lời]: “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi, nên nói rằng: “Ngươi từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu vị ấy từ bỏ thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không từ bỏ thì trong khi đạt được sự hợp nhất [của hội chúng] nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung [với vị ấy].
Chương “Trọng yếu” là thứ nhất.
*****
Trong chương này có một trăm bảy mươi hai sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
1. Luật, về các ý nghĩa quan trọng, là nguồn đem đến sự an lạc cho các Tỳ-khưu hiền thiện, có sự ngăn chặn các ước muốn về việc ác và có sự khiêm nhường trong những việc ra sức.
Và còn là sự nâng đỡ của giáo pháp, là hành xứ của các đấng Toàn Tri và các bậc Chiến Thắng, là lãnh vực không xa lạ, được an toàn, đã khéo được quy định, không có điều nghi hoặc.
Tương tợ như người làm điều lợi ích, [vị Tỳ-khưu] tốt thực hành một cách đúng đắn về Luật ở bộ Hợp phần [Đại phẩm và Tiểu phẩm], luôn cả bộ Tập yếu và các tiêu đề [bộ Đại phân tích].
2. Người không hiểu biết về loài bò không chăn giữ đàn bò được. Như vậy, trong khi không biết giới, làm sao vị ấy có thể gìn giữ sự thu thúc?
3. Cho đến khi Kinh và Vi diệu pháp bị quên lãng mà Luật chưa bị tiêu hoại thì giáo pháp vẫn còn tồn tại.
4. Vì điều đó, với việc kết tập là nguyên nhân, tôi sẽ tuần tự nói về phần tóm lược theo như sự hiểu biết, xin các vị hãy lắng nghe tôi nói.
5. Câu chuyện, phần duyên khởi, tội vi phạm, phương thức và luôn cả phần trùng lặp, không giản lược phần ấy là việc làm vụng về, các vị hãy hiểu rõ điều ấy đúng theo phương pháp.
6. Sự giác ngộ và cội cây Rājayatana, cội cây người chăn dê, vị Sahampati, đấng Phạm thiên, vị Aḷāra và vị Uddaka, [năm] Tỳ-khưu và ẩn sĩ Upaka.
7. Koṇḍañña, Bhaddiya, Vappa, Mahānāma và Assaji, Yasa, bốn [người bạn], năm mươi [người bạn], Ngài đã phái đi tất cả, [việc xuất gia ở] các phương.
8. Câu chuyện với các Ma vương và ba mươi [vị vương tử], ba đạo sĩ bện tóc ở Uruvelā, nhà thờ lửa, vị Đại vương Sakka, Phạm thiên và toàn thể [dân chúng].
9. Y paṃsukūla, hồ nước, tảng đá và [cành cây] Kakudha, khối đá [phơi y], trái Jambu, trái xoài, trái Āmalakī và Ngài đã mang lại bông hoa san hô.
10. Này Kassapa, hãy chẻ ra, hãy đốt lên và hãy dập tắt đi. Các vị hụp [xuống nước], chảo lửa, đám mây đen, [đỉnh] Gayā, [khu rừng] Laṭṭhi và vua xứ Magadha.
11. Rồi Upatissa và Kolita danh tiếng đã xuất gia. Các vị mặc y luộm thuộm, [cho phép] việc đuổi đi và vị Bà-la-môn bị ốm o cằn cỗi.
12. Vị làm hành động sai trái, [vì] bao tử, chàng trai trẻ, hội chúng [là mười vị]. [Bao nhiêu] năm, với các vị ngu dốt, trong khi [thầy] ra đi, mười năm, việc nương nhờ.
13. Các vị không thực hành, để đuổi đi, các vị ngu dốt, sự đình chỉ, năm, sáu [yếu tố], vị nào là ngoại đạo, lõa thể, tóc chưa cắt, đạo sĩ bện tóc và dòng Sakya.
14. Ở xứ Magadha, năm thứ bệnh, một [trường hợp], [lính của] đức vua, và [kẻ cướp đeo] ngón tay và vua xứ Magadha đã cho phép, kẻ [phá] ngục, án ghi, bị phạt roi.
15. Các dấu hiệu, kẻ nợ và nô tỳ, kẻ sói đầu, [thiếu niên] Upāli, bệnh dịch, gia đình có đức tin, Sa-di Kaṇṭaka và luôn cả chuyện bị tắt nghẽn [hướng đi].
16. Về việc nương nhờ, đứa trẻ trai, các điều học, chúng sống và điều gì nữa? [Việc ngăn cấm] toàn bộ, [thức ăn theo đường] miệng, các thầy tế độ, việc dụ dỗ, chuyện Kaṇṭaka.
17. Kẻ vô căn, trộm [tướng mạo], chuyển sang [ngoại đạo], con rồng và [kẻ giết] mẹ, cha, A-la-hán, [làm nhơ] Tỳ-khưu-ni, chia rẽ, [làm chảy] máu và kẻ lưỡng căn.
18. Thầy tế độ không có, với hội chúng, hoặc nhóm, kẻ vô căn, không bình bát, không y, hoặc cả hai, với đồ mượn là ba.
19. Các người [bị đứt] bàn tay, bàn chân, bàn tay và bàn chân, lỗ tai và lỗ mũi, hoặc cả hai điều ấy, các ngón, móng tay và gân chân, tay có màng, gù lưng và người lùn.
20. Người bị bướu cổ và luôn cả người bị đóng dấu, bị phạt roi, bị tầm nã, phù chân voi, bệnh nặng, kẻ bôi nhọ hội chúng, người chột mắt và bị bệnh co rút, là tương tợ như thế.
21. Người què và luôn cả người bị liệt nửa thân, người có tướng đi khập khiễng, người già yếu, người mù, người câm, người điếc, người mù và câm là ở nơi ấy.
22. Người mù và điếc đã được nói đến, luôn cả người bị câm và điếc, người bị mù câm điếc và việc nương nhờ của những kẻ không liêm sỉ.
23. Có thể sống và đi đường xa là tương tợ, với vị yêu cầu, những người mong muốn, hãy đi đến, chúng tranh cãi, với cùng thầy tế độ, vị Kumārakassapa.
24. Và được thấy những vị đã tu lên bậc trên bị khổ sở vì các thứ bệnh, chưa được giảng dạy, các vị bị bối rối, việc giảng dạy ở ngay chính nơi ấy.
25. Rồi ở nơi hội chúng, kẻ ngu, chưa được chỉ định, cùng một lúc, xin hãy tế độ, sự tu lên bậc trên, pháp nương nhờ, mỗi một mình, ba [trường hợp].
Dứt phần tóm lược của chương “Trọng yếu.”
--ooOoo--
[1] Cây si của những người chăn dê (Ajapālanigrodha): Bản dịch tiếng Anh của Rhys Davids và Hermann Oldenberg dẫn chứng tài liệu và giải thích rằng: 1. Các người chăn dê dùng bóng mát của cây si (Nigrodha) để nghỉ ngơi nên được gọi là cây si của những người chăn dê. 2. Cây si đã được một đứa bé chăn dê trồng trong thời gian Bồ-tát Siddhattha hành khổ hạnh 6 năm.
[2] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng đức Phật đã chú nguyện thành một bình bát mới từ 4 bình bát bằng đá ấy (VinA. V. 960).
[3] Nghĩa là đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và đi đến nương nhờ Giáo pháp, vì Hội chúng Tỳ-khưu vào lúc bấy giờ chưa được hình thành (ND).
[4] Đức Thế Tôn đề cập đến sự phục vụ của 5 vị này trong thời gian Ngài hành khổ hạnh 6 năm. Điểm cần lưu ý là đức Thế Tôn dùng từ “Bhikkhu” dịch là “Tỳ-khưu” để gọi 5 vị này, dầu các vị chưa trở thành đệ tử và chưa tu tập theo giáo pháp của Ngài (ND).
[5] Lúc này, 5 vị không gọi đức Phật là “Āvuso” nữa, mà gọi là “Bhante”, tỏ ý tôn trọng (ND).
[6] Dịch sát nghĩa sẽ là “có sự tạo ra con mắt, có sự tạo ra trí tuệ” (ND).
[7] “Aññākoṇḍañña” = Aññā + koṇḍañña, nghĩa là “Koṇḍañña đã hiểu.” Tên gọi này được phát xuất từ lời nói của đức Phật: “Aññāsi vata bho Koṇḍañño. Aññāsi vata bho Koṇḍañño” (ND).
[8] Tốt hơn nên dịch là “sắc không phải là ngã” hoặc “sắc không phải là ta” (ND).
[9] Khoái lạc sanh lên do 5 giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi và thân (ND).
[10] Vị nam cư sĩ đọc 3 câu (tevāciko): Lúc bấy giờ, trên thế gian này đã có 6 vị Tỳ-khưu A-la-hán, tức là Hội chúng Tỳ-khưu đã hiện hữu. Vì thế, khi đi đến nương nhờ vào Ba ngôi báu, người gia chủ này đã đọc 3 câu nương nhờ là “Con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn. Con đây xin đi đến nương nhờ Giáo pháp. Con đây xin đi đến nương nhờ Hội chúng Tỳ-khưu” (ND).
[11] Saṅgha: Được dịch âm thành Tăng-già, nói ngắn gọn là Tăng. Saṅgha có ý nghĩa thông thường là hội chúng, tập thể, v.v... và được thiêng liêng hóa khi đề cập đến 3 ngôi Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Điều cần lưu ý ở đây là từ “Saṅgha” cũng được dùng cho Tỳ-khưu-ni: Bhikkhunīsaṅgha = hội chúng Tỳ-khưu-ni, Tỳ-khưu-ni Tăng (tương tợ như ở bhikkhusaṅgha = hội chúng Tỳ-khưu, Tỳ-khưu Tăng). Tuy nhiên, hiện nay có khuynh hướng dùng chữ “Tăng” chỉ dành riêng cho phái nam, ví dụ như: “Tứ chúng gồm có Tăng, Ni, thiện nam, tín nữ”, hoặc “Kính bạch chư Đại đức Tăng, Ni” hoặc bình dân hơn như “ông Tăng, bà Ni”, v.v... Chữ “Tăng” này chỉ tương đương với từ “Bhikkhu” (Tỳ-khưu) chứ không phải là “Saṅgha” như ở trên (ND).
[12] Ngài Buddhaghosa cho biết đây là các lời kệ được lưu truyền về sau này (VinA. V. 971).
[13] Vải paṃsukūla: Chủ yếu là vải quấn thây người chết, được đem bỏ ở bãi tha ma, hoặc là vải nhặt ở các đống rác. Ở một vài chỗ, chúng tôi đã dịch là “vải dơ bị quăng bỏ” (ND).
[14] Trái Jambu giống trái mận (miền Nam) hoặc đào đỏ (miền Trung) nhưng nhỏ hơn (ND).
[15] Jambudīpa, dịch là đảo Jambu, tức là bán đảo Ấn Độ (ND).
[16] Một trăm hai mươi ngàn (dvādasanahuta = dvādasa + nahuta = 12 nahuta). Ngài Buddhaghosa giải thích: 1 nahuta = 10.000, như vậy 12 nahuta = 120.000 (VinA. V. 972). Trong khi đó, từ điển A Dictionary of the Pali Language của Robert Caesar Childers ghi: 1 nahuta = 10.000.0004, tức là 28 con số không (0) sau con số một, như thế 12 nahuta là một con số quá lớn, không hợp lý trong trường hợp này.
[17] Đấng Thập Trú (Dasavāso): Là vị có sự cư trú trong 10 pháp của bậc Thánh. HT. Thích Minh Châu dịch là “Mười Thánh cư” (xin xem Kinh Trường bộ, Kinh Phúng tụng, phần 10 pháp, hoặc Kinh Tăng chi bộ, chương 10 pháp, phẩm 2).
[18] Thông hiểu mười pháp (dasadhammavidū): Là vị thông hiểu về 10 đường lối tạo nghiệp (liên quan đến thân có 3, liên quan đến khẩu có 4 và liên quan đến ý có 3).
[19] Thành đạt 10 điều (dasabhi cupeto): Là thành tựu 10 pháp của bậc Vô học gồm có: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh cần, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát (Kinh Tăng chi bộ, chương 10 pháp, phẩm 11). Ba điều này đã được triển khai dựa vào lời giải thích ngắn gọn của Chú giải (VinA. V. 973).
[20] Do đánh số nhầm từ bản gốc Pāli (không có số 7, 8) nên dịch giả giữ nguyên số lại như vậy để dễ đối chiếu (BBT).
[21] Saddhivihārika dịch sát theo từ là “vị sống chung trú xá.”
[22] Nếu gấp đôi y lại sẽ có đường gấp ở chính giữa, và trong khi thường xuyên làm như vậy thì phần chính giữa này sẽ bị sờn. Cách gấp y như vầy để hạn chế điều ấy (VinA. V. 979).
[23] Do đánh số nhầm từ bản gốc Pāli (không có số 23) nên dịch giả giữ nguyên số lại như vậy để dễ đối chiếu (BBT).
[24] Ngài Buddhaghosa giải thích là sự rèn luyện về tâm từ (VinA. V. 983).
[25] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tăng thượng giới (adhisīla) gồm có 4 tội Pārājika và 13 tội Saṅghādisesa. (VinA. V. 989).
[26] Tăng thượng hạnh (ajjhācāra) là các tội khác thuộc về 5 nhóm tội còn lại (Sđd.).
[27] Tri kiến cực đoan (atidiṭṭhi) là từ bỏ chánh kiến và chấp nhận hữu biên kiến (Sđd.). Xem phần giải thích về hữu biên kiến (antaggāhikādiṭṭhi) trong Paṭisambhidāmagga (Phân tích đạo), TTTĐPGVN, tập 8, tr. 888-92; TTPV, tập 37, tr. 286-95.
[28] Ngài Buddhaghosa giải thích về các điều học thuộc về phận sự căn bản (ābhisamācārikā sikkhā) là các phận sự được quy định ở trong Khandhaka, tức là Mahāvagga (Đại phẩm) và Cullavagga (Tiểu phẩm) (VinA. V. 990).
[29] Còn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh (ādibrahmacariyikā sikkhā) là phần quy định dành cho bậc Hữu học, tức là hai phần Giới bổn (Pātimokkha) đã được quy định cho Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni (Sđd.).
[30] Hướng dẫn về Thắng pháp là có khả năng hướng dẫn về sự phân biệt danh sắc, và hướng dẫn về Thắng luật là hướng dẫn về toàn bộ tạng Luật (Sđd.).
[31] Parivāsa: Trường hợp vị Tỳ-khưu phạm tội Saṅghādisesa có che giấu, muốn được trong sạch trở lại phải xin hành phạt cũng có tên là Parivāsa. Tuy có tên gọi giống nhau nhưng phận sự thực hành không giống nhau (ND).
[32] Ngài Buddhaghosa giải thích về tăng thượng giới (adhisīla) là Giới bổn (Pātimokkha), tăng thượng tâm (adhicitta) là sự tu tập các loại định hợp thế, tăng thượng tuệ (adhipaññā) là sự tu tập [các tâm] đạo siêu thế (VinA. V. 993).
[33] Coro aṅgulimālo: Mới xem qua dễ lầm tưởng với kẻ cướp tên Aṅgulimāla trong bài kệ tụng về Tám Phật Lực. Dịch giả I. B. Horner đã nêu lên điều này với lý do không có chữ “nāma” (tên là) hoặc “iti” như thường được dùng trong trường hợp danh từ riêng; hơn nữa, ở đây vị này được xuất gia ở nơi các Tỳ-khưu, còn vị kia được xuất gia theo lối “ehi bhikkhu” với đức Phật. Thêm vào đó, sự biến đổi từ nữ tánh sang nam tánh của mālā trong cụm từ “aṅgulimālo” xác định đây là trường hợp “bahubbīhi” làm phận sự của tính từ (ND).
[34] Liên quan đến tội Pācittiya 65 về cho tu lên bậc trên người kém hai mươi tuổi (ND).
[35] Dakkhiṇāgiri nghĩa là “ngọn núi ở phía Nam.” Tuy nhiên, ở phía Nam của thành Rājagaha có ngọn núi tên là Dakkhiṇāgiri, vì là địa danh cho nên giữ nguyên không dịch (ND).
[36] Suddhodana dòng Sakya tức là đức Vua Tịnh Phạn dòng Thích-ca. Tịnh Phạn là từ dịch nghĩa của Suddhodana (Suddha = trong sạch + odana = cơm). Thích-ca là từ dịch âm của Sakya. Một số tên gọi khác cũng đã được dịch âm như là Sĩ-đạt-ta (Siddhattha), Da-du-đà-la (Yasodharā), La-hầu-la (Rāhula), Ma-da (Mayā), Kiều-đàm-di (Gotamī) (ND).
[37] Nandā là con trai của đức Vua Suddhodana và bà Mahāpajāpatī Gotamī, tức em cùng cha khác mẹ với đức Phật (ND).
[38] “Theyyasaṃvāsaka” nghĩa là kẻ sống chung theo lối trộm cắp. Chú giải đề cập 3 loại “theyyasaṃvāsaka”: “Liṅgatthenaka” (kẻ trộm tướng mạo) nghĩa là kẻ tự mình xuất gia rồi đi đến tu viện và không biết gì về các điều quy định, “saṃvāsatthenaka” (kẻ trộm trong việc cộng trú) nghĩa là vị Sa-di đã hoàn tục rồi đi đến tu viện nói dối là Tỳ-khưu và có biết về các điều quy định, hạng thứ ba “ubhayatthenaka” (kẻ trộm theo cả hai cách) nghĩa là kẻ tự mình xuất gia rồi đi đến tu viện và có biết về các điều quy định (VinA. V. 1016-17).
[39] Vào các ngày này, các cư sĩ thường thọ trì 8 giới hoặc 10 giới một ngày đêm (ND).
[40] Người có cả hai bộ phận sinh dục nam và nữ (ND).
[41] Được vị bị bệnh yêu cầu là hãy sống nương nhờ vào vị ấy (VinA. V. 1032).